Địa chỉ sưu tầm: Nguyễn Hữu Đổng - Phó tổng biên tập Báo và PHTH Đà Nẵng
BIỆN GIẢI VỀ NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BÀI CHÒI XỨ QUẢNG
Nguyễn Hữu Đổng
Phó tổng biên tập Báo và PHTH Đà Nẵng
Vượt dải Hoành Sơn mở đất phương Nam, các bậc tiền nhân đã tạo tác nhiều di sản để lại cho con cháu hôm nay, trong đó có nghệ thuật Bài chòi.
Trên vùng Ngũ Quảng xưa (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) cho đến Bình Định, thậm chí tới Bình Thuận - theo các tên gọi tỉnh cũ, Bài Chòi hình thành và phát triển, tiếp biến các giá trị kết hợp âm nhạc, diễn xướng, hội họa và văn học dân gian, để được lưu truyền, quảng diễn nhiều nơi.
Đặc biệt, ngày 7/12/2017, di sản Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Tuy đã được tiếp tục bảo tồn và tôn vinh nhưng cho đến nay, trong nhiều công trình nghiên cứu vẫn để ngỏ những lý giải khác nhau về nguồn gốc và quá trình hình thành nghệ thuật Bài Chòi. Vì vậy, với mong ước của người con sinh ra, trưởng thành trên đất Quảng, bằng chuyên đề nghiên cứu này chúng tôi muốn biện giải những luận điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu, nhằm tìm hiểu, phân tích và lựa chọn cách hiểu khả dĩ chấp nhận được về nguồn gốc, quá trình hình thành Bài Chòi của miền Trung nói chung, xứ Quảng nói riêng.
I - NHỮNG LÝ GIẢI VỀ NGUỒN GỐC BÀI CHÒI
Lâu nay, nguồn gốc của Bài Chòi luôn là vấn đề gây tranh luận, bởi nó tồn tại dưới ba dạng: (1), trò chơi dân gian; (2), hình thức hô – hát; (3), một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Các nhà nghiên cứu nhìn nhận Bài Chòi không hình thành một lần mà qua quá trình tích hợp nhiều lớp văn hóa.
Cho đến nay, về phương diện hình thức hô hát hay là một nghệ thuật tổng hợp, Bài Chòi bao gồm sự kết hợp với các yếu tố hội họa (hình vẽ các con bài), âm nhạc dân gian, diễn xướng (hô, hát, trình thức biểu diễn)… thì cơ bản các quan điểm không phân cực xu hướng khác biệt nhau nhiều khi xem đó là sản phẩm sáng tạo của người xứ Quảng.
Nhưng về phương diện là trò chơi, có hai xu hướng chính tồn tại trong cách lý giải về nguồn gốc Bài Chòi - chủ yếu là xét yếu tố của bộ bài, hình vẽ các quân bài dùng trong trò chơi Bài Chòi, từ đó có các quan niệm cho rằng: (1), Bài Chòi là trò chơi du nhập từ bên ngoài, với sự tiếp nhận các loại hình bộ bài có nguồn gốc từ ngoại quốc; (2), Bài Chòi là sản phẩm sáng tạo nội sinh từ chính cư dân xứ Đàng Trong, gắn với quá trình mở nước về phương Nam.
Chúng tôi lần lượt điểm những nét chính của các quan điểm đó như sau:
1. Bài Chòi là trò chơi du nhập từ với sự tiếp nhận các bộ bài ngoại lai:
Trong tiểu luận nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuyên - Ngô Minh Hiệp, về “Đặc trưng và giá trị nghệ thuật Bài Chòi Nam Trung Bộ” (Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân, 01(62), (2024), tr 142-151) có tổng hợp các “quan điểm bài chòi là hình thức giải trí du nhập từ nước ngoài dựa trên góc nhìn về nguồn gốc của bộ Bài Chòi”. Trong đó, dẫn tư liệu của Nguyễn Đăng Hựu và Nguyễn Thị Kim Bài cho rằng “Bài Chòi của người Việt ở miền Trung có mối quan hệ với loại bài truyền thống của một số quốc gia trong khu vực Đông Á. Từ việc so sánh về cách chơi, phân chia, hình vẽ trên bộ Bài Tới (Bài Chòi của người Việt ở miền Trung) và loại bài giấy Mã Điếu, Mạt Chược, Diệp Tử, Tào Châu của Nhật Bản và Trung Quốc, nhóm tác giả đã phát hiện một số nét tương đồng và khác biệt, cụ thể là hình ảnh những nhân vật trong tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc khúc xạ lên hình ảnh nhân vật đậm chất tuồng/hát bội của bộ Bài Tới, dấu ấn văn hóa Bách Việt thông qua biểu tượng đồng tiền, đường tơ thoi dệt trên lá Bài Tới. Vì vậy, nhóm tác giả đi đến nhận định rằng Bài Chòi mang dấu ấn tương tác với văn hóa Hoa Hạ và vùng Bách Việt thông qua dòng người di dân, buôn bán, sau đó người Việt đã Việt hóa hình thức lá bài du nhập gắn với không gian cộng đồng theo tính chất trình diễn ứng tác phi sân khấu (“Bài chòi Trung Bộ: Nguồn gốc, quan hệ và bản sắc”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6 (2018), tr.33-41).
Tương tự quan điểm trên, trong bài “Nguồn gốc bộ Bài Chòi” (báo Tuổi trẻ, 2007) đưa ra nhận định của nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc cho rằng, cách gọi các pho của bộ Bài Tới có liên quan đến loại bài giấy của Trung Quốc là Diệp Tử, ngoài ra còn có một số đặc điểm tương đồng giữa bộ Bài Tiền Thẻ ở Quảng Châu (Trung Quốc) và Bài Tới ở miền Trung (Việt Nam). Do đó, giả thuyết về nguồn gốc của bộ Bài Tới được cho là có liên quan đến Bài Tiền Thẻ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam giữa thế kỉ XVII.
Nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông, trong bài viết “Bàn thêm về Bài Chòi” (Tạp chí Sông Hương, năm 2018, tr 348) đã đưa ra phỏng đoán các bộ Bài Tiền Thẻ từ Quảng Đông (Trung Quốc) du nhập vào miền Trung (Việt Nam) rồi biến đổi về tạo hình và cách chơi bài. Đó là do tiền thân của bộ Bài Tới đã từng du nhập vào miền Bắc (Việt Nam) với lối chơi phổ biến gọi là đánh bài Tổ Tôm (tụ tam). Vì vậy, Phùng Tấn Đông khẳng định rằng bộ Bài Chòi miền Trung là một sản phẩm hình thành từ quá trình giao lưu văn hóa Việt - Hoa.
Không những dựa trên nhận diện hình vẽ quân bài, Phùng Tấn Đông còn căn cứ vào lối hô hát để đưa ra quan điểm về nguồn gốc Bài Chòi dựa trên sự bắt chước của người Việt với người Hoa, rằng: “Hô bài chòi ở Quảng Nam còn gọi là hô thai, có gốc từ trò chơi thai đề xổ cổ nhơn (cử nhân). Hội chơi xổ cổ nhơn diễn ra vào dịp tết âm lịch, tương truyền ban đầu chỉ là một trò chơi nhỏ trong cộng đồng người Hoa, sau dần người Minh Hương, người Việt có chữ nghĩa đều tham gia vì trò này tương tự như trò “thả thơ” - nghĩa là xem câu thai (câu đố) rồi suy đoán ý nghĩa của quân bài được đố” (Di sản Bài Chòi Quảng Nam, nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, 7/11/2022).
2. Bài Chòi là sản phẩm sáng tạo nội sinh của người Việt ở Đàng Trong:
Quan điểm này được đưa ra rất sớm, tiêu biểu là nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp (gốc Ba Lan) - G.L Bouvier. Trong cuốn “Larousse Musicale” xuất bản tại Paris (Pháp) năm 1928, nhà nghiên cứu này đã dành riêng một chương dài có tiêu đề là “Chansons populaires de l’Annam” (Những bài hát phổ thông của người An Nam) để nói về Bài Chòi. Ông cho rằng “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến (1470)” (La Nhiên, “Quê Hương Điệu Hát Bài Chòi”, bản in ronéo, Sài Gòn năm 1974). Cũng trong chương này, theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên thì Bouvier đã đề cập rất kỹ về Bài Chòi. Thậm chí ông còn so sánh những câu tục ngữ, ca dao Việt Nam với những câu nói dân gian ở Algérie. Ví dụ: “Avec un sac plein de piastres, même parlant à tort et à travers on est toujours très écouté” (Vai mang bị bạc kè kè/ Nói bậy nói bạ nẫu nghe rầm rầm).
Lý giải của Bouvier về ngồn gốc Bài Chòi khá thú vị: “Khi xuôi về phương Nam, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Amaravati đến Panduranga (tức từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Thuận), đặc biệt thành công trong việc xây dựng kinh tế văn hóa và đời sống ở vùng châu thổ Vjiya (Bình Định, Phú Yên) rất phì nhiêu. Được như vậy là nhờ vào sự tập hợp rộng khắp và hợp lý cùng một lúc các dân tộc trên vùng lãnh thổ thành một khối. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương vốn dĩ mang truyền thống văn hóa từ lâu đời trên khắp mọi miền, từ phương Bắc tới. Chính vì có sự tập trung đa dạng và phong phú về mặt văn hóa như vậy nên người dân An Nam có điều kiện kết hợp, hòa thuận nhanh chóng với nền văn hóa của đồng bào địa phương vốn đã sinh sống từ lâu tại đây. Sau đó họ cải cách một số làn điệu dân ca, dân vũ để phù hợp với nếp sống của cộng đồng (mới) lúc bấy giờ… và Bài Chòi đã ra đời trong hoàn cảnh như thế”.
Quan điểm của Bouvier chính là một cơ sở để nhà nghiên cứu Trương Được (bút hiệu laiquangnam), quay trở lại nguồn cội sinh thành là xứ Quảng của ông để đưa ra những phỏng đoán, rằng Bài Chòi là sản phẩm sáng tạo của người Đàng Trong. Khi thực hiện chuyên đề về “Di sản Bài Chòi Quảng Nam” cho nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số ra ngày 7/11/2022, chúng tôi đã có dịp phỏng vấn nhà nghiên cứu Trương Được. Luận điểm mà ông tâm đắc là: “Bộ Bài Tới Quảng Nam được hình thành nhờ trí tuệ tập thể của người Đàng Trong từ sau 1648 (khi chúa Nguyễn Phúc Lan qua đời), và chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần, 1620 - 1687) muốn có một bộ bài để bà mẹ kính yêu góa bụa của mình (Đoàn Quý Phi, người quê Đông Yên, Duy Xuyên, Quảng Nam) được giải trí cùng những người hầu cận. Khi con trai Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, bà Đoàn Thị Ngọc – Đoàn Quý Phi được tôn hiệu là Quốc Thái phu nhân (Thái Hậu), sau khi chồng mất bà lui về sống tại Dinh trấn Thanh Chiêm”.
Cũng theo nhà nghiên cứu Trương Được, Bài Chòi ghi dấu ấn của di dân, là sáng tạo của người Đàng Trong nhưng vẫn mang theo ký ức của quê cha đất tổ từ Đàng Ngoài, còn ẩn tàng trong hình vẽ từ quân bài và lời hô hát. Ông nhận xét và phỏng đoán: “Lần theo dòng lịch sử dân tộc, qua bao cuộc chiến tranh loạn lạc, quân thù phương Bắc giày xéo dân tộc Lạc Việt. Người Việt gốc chạy vào vùng Thanh - Nghệ bởi họ không muốn ra làm quan Bờm cho Tàu. Đến thời Hồ - Lê - Mạc - Trịnh, họ tiếp tục chạy vào phương Nam. Đoàn người theo chúa Nguyễn Hoàng bỏ miền Bắc vượt đèo Ngang, hẳn đã mang theo những ký ức sống cay đắng từ nơi chôn nhau cắt rốn. Ẩn ức đó trao truyền đến những thế hệ sau trên miền đất mới, và người Đàng Trong đã vẽ lại chân dung tuyến quan Bờm – gọi trại ra là những quan bợm, trong bộ Bài Tới, đã từng đè nén áp bức cha ông họ trong quá khứ ở đất Bắc, rồi ngay trong thời họ sống có nguy cơ tái diễn các gương mặt ấy.
Có thể bài ca “Thằng Bờm có cái quạt mo” còn mang theo trong lòng người từ đất Bắc, truyền vào Nam, nay họ vẽ cái quạt mo trên những lá bài che mặt đám quan Bờm, trên đầu có chữ Hán (Điền kiến, 田見) để mỉa mai những kẻ đi học chữ Tàu rồi ra làm quan ức hiếp dân nghèo ở quê xưa. Đó là một tuyến bài với tên cúng cơm của mỗi lá là định danh mỗi hạng người tồn tại trong xã hội Việt thời đó, với 10 nhân vật là: Trò (Nhất Trò), Đấu (Nhì Bí), Quăn (Tam Quăn), Hương (Tư Hương), Ngũ (Ngũ Trợt), Xơ (Lục Trạng), Dọn (Thất Nhọn), Bồng (Bát Bồng), Thầy (Cửu Chùa), Tử (Thái Tử)” ((“Bộ Bài Tới với dấu ấn di dân”- Nguyễn Điện Nam, nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số ra ngày 7/11/2022).
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH “CHIẾC NÔI” BÀI CHÒI
Trong nội vùng Trung Bộ, hiện tại vẫn còn phân chia bốn luận điểm khác nhau khi lý giải về nơi xuất xứ - cái nôi Bài Chòi: (1), cho rằng cái nôi là Bình Định; (2), nôi là Huế; (3), cái nôi là xứ Quảng; (4), cái nôi chung là cả vùng.
1.Về quan điểm chiếc nôi Bài Chòi là Bình Định
Đây là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu đăng tải trên các sách báo, tạp chí của Bình Định. Nổi bật như một số nhà nghiên cứu đưa ra luận cứ rằng Ðào Duy Từ (1572-1634), người Thanh Hóa, theo Chúa Nguyễn vào Nam, điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bình Định. Đào Duy Từ đã dựa theo mô hình tiêu khiển ở các chòi canh miền núi mà sáng tạo ra hội Bài Chòi. Từ lối sinh hoạt văn hóa nương rẫy, ông ứng dụng vào trò chơi đánh bài trên chòi, dần dần có tên gọi là hội đánh Bài Chòi. Tư liệu của ông Hoàng Lê dẫn ra trong “Lịch sử ca kịch & âm nhạc Bài Chòi”(Sở VHTT Bình Định xuất bản 2001), đã nêu: “Theo lời cụ Phan Đình Lang (sinh năm 1910) thì chính cụ đã từng nghe ông nội, ông thân cụ và cũng nghe nhiều người khác kể là hội bài chòi là do ông Đào Duy Từ (1571-1634) sáng lập, ông Đào Duy Từ từ Bắc vào đến Bình Định thì lại lo việc di dân lập ấp. Trong thời kỳ đầu, việc khai khẩn đất hoang được coi là chủ yếu. Trên từng khu đất mới vỡ và bắt đầu sản xuất, người ta phải cất những cái chòi cao làm bằng tranh, tre để canh giữ thú rừng, bảo vệ hoa màu. Những cái chòi được bố trí theo hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình bán nguyệt theo địa hình và tùy theo sự thuận tiện hỗ trợ cho nhau trong việc canh gác. Trên mỗi chòi đều có mõ, thanh la, trống hoặc các thứ để gây tiếng động mỗi khi có thú rừng kéo đến phá hại hoa màu hay uy hiếp người canh giữ thì lập tức các thứ dùng để làm thanh viện đó đồng khua ầm lên để xua đuổi thú dữ. Từ việc tổ chức các chòi canh để bảo vệ sản xuất, ông Đào Duy Từ mới nghĩ ra một trò chơi trong dịp tết: Hội Bài Chòi”.
Còn Nguyễn Văn Ngọc căn cứ hình vẽ các quân bài mà cho rằng Bình Định là một trong những chiếc nôi, như “các con bài thuộc pho Vạn: Có chữ viết Hán tự, người bán thân và đồ án trang trí ở dưới cùng. Ở các con bài này, hình người bán thân hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hý khúc hay nhân vật Thủy hử thuộc pho Vạn của diệp tử mã điếu và toàn đối. Đối với bộ Bài Chòi, Bài Tới trong chừng mực nào đó là mặt tuồng (hát bội) – loại hình “Hý khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ nói chung, Bình Định nói riêng, nơi bộ Bài Chòi, Bài Tới thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch, rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như học trò (Nhứt trò), thầy (Cửu chùa) đội mũ Tì lư”(https://xunauvn.org/2019/06/25/di-tim-nguon-goc-bo-bai-choi).
Một tư liệu khác cũng cho biết, từ năm 2000, hội đánh Bài Chòi Xuân được NSƯT Phan Ngạn (1931-2008) của Đoàn Ca kịch Bài Chòi Bình Định phục hồi. Ông Ngạn là người có công đầu trong việc khôi phục lại bộ Bài Chòi, hội chơi, tìm lại được các nghệ nhân Hiệu hạt nhân để tổ chức được một hội Bài Chòi truyền thống. Với sự tiếp sức của dự án bảo tồn “Hội đánh Bài Chòi cổ dân gian Bình Định” cùng với hiệu quả từ các kỳ liên hoan dân ca Bài Chòi trên địa bàn tỉnh, năm 2010, hội đánh Bài Chòi mới thực sự hồi sinh.
2. Về chiếc nôi là xứ Huế - Quảng Trị
Theo Phùng Tấn Đông, “các nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm nguồn gốc của bộ Bài Tới. Dựa vào việc in ấn theo kỹ thuật in mộc bản bộ bài ở làng Sình (làng Lại Ân), các hộ người Hoa ở vùng Gia Hội, gần chợ Đông Ba (đều ở Thừa Thiên Huế) và cả các hộ kinh doanh người Hoa ở chợ Hội An (Quảng Nam), nhà nghiên cứu Huỳnh Hữu Ủy cho rằng: “…Ở miệt Huế và Quảng Nam, trong dân gian có bài vè “Nghe vẻ nghe ve/ nghe về bài Tới/ cơm chưa kịp xới/ trầu chưa kịp tem/ tôi đánh một đêm/ thua ba tiền rưỡi/ về nhà chồng chửi/ thằng Móc thằng Quăn/ đánh sao không ăn/ mà thua lắm bấy…”. Cho đến nay, bộ Bài Tới vẫn được cư dân từ Quảng Bình đến Quảng Nam sử dụng để chơi Bài Chòi. Huế vẫn là đầu mối hàng năm cung cấp cho các tỉnh bộ bài in mộc bản (bộ Bài Tới)”. Như vậy, nếu xét ở bộ bài dành để chơi thì họ Phùng cho Bài Chòi có xuất xứ từ bắc đèo Hải Vân, tuy nhiên ông cũng nhận thấy: “Lâu nay, ít người quan tâm đến sự khác biệt về mặt mỹ thuật của bộ bài dùng để chơi Bài Chòi của Bình Định với bộ Bài Tới dùng để chơi Bài Chòi của xứ Quảng, xứ Huế. Theo các nhà nghiên cứu, mặc dù tên gọi các quân bài ở hai vùng đại thể khá giống nhau nhưng nét vẽ, màu sắc các quân bài lại rất khác nhau”.
Nhà nghiên cứu Trương Được, khi trả lời phỏng vấn của chúng tôi, cũng đề cập về dấu vết các quân bài trong bộ bài để chỉ dấu nơi xuất xứ từ Quảng Trị và Huế, vốn là định đô đầu tiên của các Chúa Nguyễn. Chẳng hạn, như “Trong tuyến bài có lá bài tên là Dọn. Có thể nhận thấy dấu vết tiếng Quảng Trị - Thừa Thiên. Ngày đó đất Quảng Trị là nơi đặt lỵ sở đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng. Người Quảng Trị phát âm Nh ==> d, gi (như “nho nhỏ” nói thành “do dỏ”). Người Quảng Nam nghe hiểu Dọn là Nhọn. Con bài nằm ở bậc thứ bảy. Bảy là thất, ra lá bài Thất Nhọn. Thất Nhọn là một quan Bờm kế sau Lục Trạng - một hạng quan Bờm chuyên nghề bẻ cong công lý, kết án người vô tội, không tội đánh cho nhận tội, muốn khỏi đòn roi thì phải đút lót. Đó là cái nghề làm quan ăn cướp, phổ biến nhất là ở thời Lê mạt”. (“Bộ Bài Tới với dấu ấn di dân”- Nguyễn Điện Nam, nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số ra ngày 7/11/2022).
3. Chiếc nôi là xứ Quảng
Trong tiểu luận khá công phu về “Bài chòi Trung Bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã” của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan (https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-co/bai-choi-trung-bo-viet-nam-tu-goc-nhin-cua-nguoi-nghien-cuu-dien-da) đã bác bỏ luận điểm cho Bài Chòi chỉ có nguồn gốc từ Bình Định, và rằng ““thuyết tương truyền” cụ Đào dạy cho dân chơi Bài Chòi chỉ là phỏng đoán, thiếu chứng cứ thuyết phục”. Đồng thời qua điền dã và so sánh kỹ các quân bài ở các địa phương, Đặng Hoành Loan nhận xét “có tới trên 50% tên con bài khớp với tên con Bài Tới được sản xuất tại Thừa Thiên Huế. Ngay cả hình vẽ trên con bài cũng có nhiều hình trùng lặp”. Tuy nhiên, về phương diện âm nhạc, so sánh 2 vùng Nam- Bắc Trung Bộ, Đặng Hoành Loan cũng chỉ ra sự khác biệt: “Âm nhạc Bài Chòi Bắc Trung Bộ giàu nhạc tính nhưng thiếu kịch tính nên không sinh ra nghệ thuật độc diễn Bài Chòi. Âm nhạc Bài Chòi Nam Trung Bộ là âm nhạc dành riêng cho nghệ thuật Bài Chòi”.
Từ nhận xét của Đặng Hoành Loan về mặt am nhạc, đồng thời khảo cứu thêm ở góc độ phương ngữ, nếu chúng ta coi xứ Quảng là bắt đầu cho phương ngữ Nam Trung Bộ, là “bước Quảng Nam” đển tiến về phương Nam, có nhiều yếu tố để xem xét chiếc nôi Bài Chòi từ đất này. Hẳn nhiên, đứng ở phương diện là người con xứ Quảng, ít nhiều chúng tôi cũng dính mắc trong thiên kiến để nghiêng về quan điểm xem xứ Quảng là chiếc nôi Bài Chòi. Dẫu vậy, những nhận xét và phỏng đoán của các nhà nghiên cứu chuyên sâu khiến còn phân vân, cần phải xem xét kỹ lưỡng. Chẳng hạn, những yếu tố Quảng xuất hiện trên dấu vết tên con bài, “là những tên gọi nôm na, tinh nghịch, hài hước, tiếng Nôm có, tiếng Hán có... mà khi đọc lên rất vui tai, ngộ nghĩnh, đôi lúc tưởng như tục tĩu, thô lỗ, nhưng vẫn rất tự nhiên: Bảy Giày, Bảy Sưa, Ba Gà, Ba Bụng, Nọc Đượng, Năm Rún, Ông Ầm, Bạch Tuyết (đôi nơi gọi là Bạch Huê, có khi còn gọi là con l…), Tứ Tượng (Dái Voi), Ngủ Trưa… Có con bài gợi lên hình ảnh một anh nông dân chây lười, biếng nhác “ngủ trưa, ngủ trợt”, có con lại gợi lên sự đanh đá điêu ngoa “Đỏ Mỏ”, có con lại gợi lên hình ảnh gánh gồng của một đôi gióng nặng nợ “Tứ Gióng”. Trong những tên gọi đó, ta thấy nhiều âm sắc của người Quảng, là thổ âm, thổ ngữ. Về âm nhạc, cũng có yếu tố Quảng như lối hát hò khoan, hát ru, vè Quảng, lý thương nhau, hò giã vôi,… đôi khi lại điểm giọng tuồng/hát bộ, mà xứ Quảng rõ ràng là chiếc nôi nổi tiếng hát bộ/hát bội. Nói thêm về dấu vết thổ âm, giọng nói, trong nguồn gốc bài Tổ Tôm và hình họa của bộ bài này, nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc còn đã đưa ra giả thiết rất lạ là: “Theo các cứ liệu lịch sử, chúng ta có thể giả định là các hình họa đó do một nghệ nhân/họa sĩ người Nhật sống ở Hội An thực hiện và in ấn bán ra thị trường Đàng Trong, dựa trên qui phạm của loại bài Mặc Hòa (hay Đấu hổ) vốn đã phổ biến trước đó. Giả thiết này được hỗ trợ bởi cứ liệu ngữ âm phương ngữ xứ Quảng: âm “am” được đọc thành “ôm”“ (“Nguồn gốc bộ Bài Chòi” - báo Tuổi trẻ, 2007)”. Nói thế thì từ Tổ Tôm đến Bài Tới, rồi Bài Chòi, xứ Quảng là một chiếc nôi đáng kể chăng?
4. Chiếc nôi chung cả vùng Trung Bộ (trừ Tây Nguyên)
Ba luận điểm trình bày ở trên chưa làm thỏa mãn hết thảy những ai quan tâm tìm hiểu về nguồn gốc Bài Chòi. Chúng tôi cũng thấy rằng, kể từ thời mở đất về phương Nam thì ảnh hưởng vùng đất văn hóa của dân tộc Việt kéo dài từ vùng Ngũ Quảng xưa (gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức - Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi), sau mới đến Phú Yên, rồi tới Ninh Thuận, Bình Thuận, nên việc khẳng định địa phương nào là cái nôi - điểm khởi phát của Bài Chòi, thì cho tới nay vẫn chưa ai tìm ra cứ liệu lịch sử rõ ràng. Hầu hết luận điểm đưa ra đều dựa trên phân tích và phỏng đoán. Và nói như nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, “muốn đi tìm chân dung lịch sử có tính chất biên niên cho nghệ thuật dân gian, là điều không tưởng”, và Bài Chòi cũng không ngoại lệ.
Theo GS. Hoàng Chương thì: “Cho đến nay, vẫn chưa tìm thấy văn bản nào có ghi lại nguồn gốc ra đời của nghệ thuật Bài Chòi. Tuy nhiên, qua truyền thuyết dân gian, qua lời kể của những nghệ nhân cho thấy, nguồn gốc và sự ra đời của nghệ thuật Bài Chòi gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao động”(https://baodanang.vn/bai-choi-suc-song-di-san-3029218.html).Nhận định này không khác mấy với các nhà nghiên cứu tiền bối, khi chỉ ra nguồn gốc rất chung chung của nhiều loại hình văn hóa văn nghệ dân gian, là “vô danh xưng” với tác giả tập thể trong quá trình lao động sản xuất.
Luận điểm cuối cùng được nhiều người “khả dĩ chấp nhận được” là coi Bài Chòi có chiếc nôi chung cả miền Trung (trừ Tây Nguyên). Theo đó, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất và sự sáng tạo trải qua nhiều thế kỷ, nghệ thuật Bài Chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân miền Trung. Điều này được nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan, người đóng góp rất lớn trong việc xây dựng hồ sơ để công nhận Bài Chòi là Di sản Văn hóa vật thể của nhân loại, ông khẳng định: “chúng tôi có thể chứng minh rằng nghệ thuật dân gian Bài Chòi là một trong những hình thức trong toàn bộ các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian của đồng bào miền Trung” (“Bài chòi Trung Bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã”-https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-co/bai-choi-trung-bo-viet-nam-tu-goc-nhin-cua-nguoi-nghien-cuu-dien-da).
III- KẾT LUẬN
1. Dù còn có ý kiến khác nhau về nguồn gốc, quá trình hình thành, chiếc nôi ra đời Bài Chòi, nhưng luận điểm khả dĩ chấp nhận được ở nhiều nhà nghiên cứu là sản phẩm văn hóa này rất độc đáo, là sáng tạo của cư dân trong lịch sử phát triển xứ Đàng Trong, bắt đầu từ Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận.
2. Tổng quan có hai luận điểm chính về nguồn gốc Bài Chòi hình thành theo hai quan điểm đối lập: nội sinh và du nhập/tiếp biến văn hóa. Cả hai quan điểm này đều cung cấp sự phỏng đoán về thời điểm xuất hiện Bài Chòi mặc dù chưa có bằng chứng xác thực nhưng riêng với xứ Quảng, nơi mà từ thế kỷ 15 đã có hành trình đi mở nước mạnh mẽ, thì chắc chắn văn nghệ dân gian của miền đất sông Hồng, sông Mã sẽ lan tỏa theo bước chân di dân đến miền Ngũ Quảng, để lại dấu vết trong nhiều loại hình văn hóa, văn nghệ, trong đó có Bài Chòi mà giới học thuật xem đó là “cái gen văn hóa Lạc Việt”. Và sâu xa hơn, như một số nhà nghiên cứu đã cho rằng ít nhất Bài Chòi hình thành khi xứ Đàng Trong phồn thịnh. Quảng Nam lúc bấy giờ có thương cảng quốc tế Hội An, quy tụ thương nhân khắp nơi, trong đó người Hoa, người Nhật đã ở lại lập phố, nên việc giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt diễn ra là điều chắc chắn, và trên nền ấy họ đã sáng tạo nhiều loại hình văn hóa đa dạng bản sắc.
3. Hồ sơ Di sản Bài Chòi đã được xét và công nhận, đó cũng là tài sản chung của miền Trung, nên mọi việc đi tìm “chiếc nôi riêng” với tính chất “cục bộ bản vị” thì không hay ho chi. Bài Chòi có thể tiếp thu Bài Tới, với tư cách là trò chơi, rồi đổi mới tên gọi, cải tiến hình thức để làm nên bộ bài đặc trưng; đồng thời với tư cách là nghệ thuật tổng hợp, trong Bài Chòi có sự tiếp biến, cải biên nhiều làn điệu dân ca, trình thức diễn xướng, làm ra ít nhiều sai khác từ khu 4 cũ đến khu 5, từ Quảng Nam và Bình Định, nhưng tất thảy đều đính trên chiếc nôi Di sản Bài Chòi là của chung vùng đất này. Việc của hậu thế chúng ta là làm sao bảo tồn và phát huy vốn quý từ cha ông trao lại ấy, xiển dương cho lộng lẫy một di sản đáng tự hào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. The Art of Bài Chòi in Central Viet Nam – UNESCO Nomination File (2017)- Hồ sơ Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
PDF: https://ich.unesco.org/doc/src/31422.pdf
2. “Di sản Bài Chòi Quảng Nam”- Phùng Tấn Đông, Nguyễn Điện Nam - Nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số 7/11/2022
3. “Đặc trưng và giá trị của nghệ thuật Bài Chòi Nam Trung Bộ” - Nguyễn Thị Thanh Xuyên & Ngô Minh Hiệp - Tạp chí nghiên cứu Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân, số 01, 2024.
4. “Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam”- Đặng Hoành Loan -Viện Âm Nhạc.
PDF: https://vienamnhac.vn/Media/Default/Download/bai%20choi.pdf
5. “Nghệ thuật Bài Chòi dân gian: Khó khăn, thách thức trong thời hội nhập”- báo Văn Hóa Nghệ Thuật Việt Nam. Link:https://vanhoanghethuat.vn/nghe-thuat-bai-choi-dan-gian-kho-khan-thach-thuc-trong-thoi-k-hoi-nhap.htm
18. “Bài chòi Trung Bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã”- Đặng Hoành Loan - https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-co/bai-choi-trung-bo-viet-nam-tu-goc-nhin-cua-nguoi-nghien-cuu-dien-da).
19.”Nguồn gốc bộ Bài Chòi” - Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc - báo Tuổi trẻ, 2007