DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT THÀNH ĐIỆN HẢI

Ngày đăng: 28/01/2026

Thành Điện Hải, một di tích lịch sử quan trọng của thành phố Đà Nẵng và là kiến trúc quân sự thời Nguyễn còn lại hiếm hoi ở Đà Nẵng hiện nay. Thành đã từng là tiền đồn chống thực dân Pháp ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên đất nước chúng ta.

Trước XIX, Đà Nẵng vốn đã được coi là một cửa ngõ trọng yếu và là thương cảng giàu tiềm năng. Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, triều Nguyễn được xác lập và đóng đô ở Huế thì vùng Quảng Nam được coi là “quận chân tay”, là phên dậu của kinh đô từ phía Nam, vị thế của Đà Nẵng vì thế càng trở nên quan trọng và lọt vào tầm ngắm của các nước thực dân phương Tây, đặc biệt là sự dòm ngó của Pháp đối với nước ta. Bởi vậy nhà vua đã chủ trương tăng cường phòng vệ duyên hải, nhất là ở các hải cảng. Về sau, các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức nối nghiệp cũng đã tiếp tục thực thi đường lối này, tăng cường xây dựng và củng cố hệ thống các bảo, đài, thành lũy tại Đà Nẵng nhằm kiểm soát và phòng thủ cửa biển quan trọng này, chống lại sự tấn công bằng đường biển của các lực lượng ngoại xâm. Trong hệ thống đó, Thành Điện Hải được coi là một thành lũy kiên cố, lớn nhất và có vai trò lịch sử quan trọng.

 Năm 1813, vua Gia Long cho đắp đài Điện Hải và bảo An Hải (đài ở tả ngạn sông Hàn, về phía tây, bảo ở bên hữu). Ban đầu, đài Điện Hải được xây dựng bằng đất nằm ở gần bờ biển vì thế hằng năm thường bị nước biển xói mòn và ngày càng sụt lở cho dù đã được gia cố bằng việc đóng cọc xây đá.

Chính vì vậy, vào tháng 2 năm Qúy Mùi, Minh Mạng thứ 4 (tức năm 1823), vua cho xây lại vì nhà vua đã nhận thấy "đài đó là để giữ vững bờ biển, làm mạnh thế nước" nên không sợ vất vả, chẳng tiếc tiền của, quyết tâm xây dựng đài mới. Rút kinh nghiệm của tiên triều, vua Minh Mạng sai người ngắm đo hình thế, nghiên cứu địa hình kĩ càng và cho đài dời về phía Nam cách vị trí cũ 50 trượng (khoảng 200m), thuộc đất làng Thạch Thang, xứ Tràm Trẹm (nay là phường Thạch Thang, quận Hải Châu) trên một khu đất cao rộng để tránh sự xâm thực của biển. Phục vụ cho việc xây đài có 5000 dân được huy động, làm việc hằng tháng dưới sự chỉ đạo, trông coi của Phó đô đốc chế Tả dinh quân Thần sách Nguyễn Văn Trí và Tham tri bộ Binh Nguyễn Khoa Minh.

Năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đài Điện Hải được đổi tên là thành Điện Hải và  vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), sau sự kiện 2 chiến thuyền Pháp bắn bắn đắm chiến thuyền của ta rồi bỏ đi thì triều đình nhà Nguyễn cho tăng cường hơn nữa việc phòng thủ. Lúc này, thành được xây dựng lại kiên cố hơn phỏng theo kiểu kiến trúc Vauban (lối kiến trúc do Vauban, một kĩ sư quân sự và là thống chế Pháp sáng tạo, đã được áp dụng trong việc xây thành ở Pháp từ XVII - XIX). Thành có dạng hình vuông với 4 góc lồi. Xung quanh thành là hệ thống hào rộng và sâu, có cầu bắc qua để ra vào. Thành có 3 cổng ở phía Đông, phía Tây và phía Nam với chu vi là 556m, có tường cao hơn 5m, các hào sâu hơn 3m. Thành có hai lớp tường cách nhau bởi các con hào và thành ngoài cao hơn thành trong, bốn bức tường tạo nên thành không thẳng mà hơi lõm vào giữa làm cho bốn góc lồi hơi nhô ra. Trong thành có xây hành cung, kỳ đài, các nhà bằng gỗ lợp ngói cho tướng lĩnh và binh sĩ, ngoài ra thì còn có kho vũ khí, đạn, kho thuốc súng, kho lương thực, xưởng đúc đại bác, sửa chữa súng. Đặc biệt, thành còn được trang bị 30 ụ súng đại bác.

Thành Điện Hải là một pháo đài kiên cố để trấn giữ Đà Nẵng, theo nhật ký của một sĩ quan Pháp tham chiến trong trận đánh Đà Nẵng, ghi ngày 20/11/1858 đã nói về thành Điện Hải như sau: "Pháo đài phía Tây và các công sự khác được sửa chữa lại khá hoàn hảo. Pháo đài này từng được trang bị đại bác cỡ lớn bằng sắt và bằng đồng. Đại bác bằng đồng được đặt trên giá súng cao. Trang bị pháo binh của họ rất hoàn chỉnh và tốt hơn nhiều so với gì tôi thấy ở Trung Hoa. Pháo đài phía Tây gồm một xưởng pháo binh lục chiến, những đại bác bằng đồng cỡ 6 và 9, giá súng đặt trên những bánh xe cao rất phù hợp với đường sá gồ ghề của xứ này... Cách bố trí hào luỹ và súng ống nói trên chứng tỏ chính quyền An Nam chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến sẽ phải xảy ra...".

Trong cuộc đối đầu lần thứ nhất giữa quân ta và liên quân Pháp - Tây Ban Nha, sáng sớm ngày 1/9/1858, chúng đã nã pháo tấn công Đà Nẵng. Thành Điện Hải bị pháo kích dữ dội. Hôm sau, chúng tiếp tục pháo kích, tấn công thành làm sập góc thành và nổ kho thuốc súng, gây hư hại một phần. Sau đó, chúng đưa quân tiến vào cửa sông Hàn tấn công thành Điện Hải, quân ta vừa đánh vừa lui dần và địch chiếm được thành. Tuy chiếm được thành Điện Hải nhưng quân địch luôn ở thế bị bao vây, sợ ta phản công, quân Pháp rút khỏi vị trí này vì thế quân ta vẫn làm chủ thành.

Trong cuộc đối đầu vào ngày 20/4/1859, quân địch đã tập trung hỏa lực của các tàu chiến tấn công liên tục, dữ dội vào thành Điện Hải. Quân ta đã dũng cảm đánh trả quyết liệt, nhưng cuối cùng cũng phải rút lui để đỡ thương vong. Sau khi chiếm được thành, quân địch đặt tại đây một đơn vị đồn trú và tăng cường một cụm hỏa lực gồm 5 đại bác cỡ 30 ly để ngăn cản sự tái chiếm của quân ta. Về phía ta, dưới sự chỉ huy của vị tướng tài tình Nguyễn Tri Phương quân ta cũng đã đắp lũy, xây dựng phòng tuyến và đã đặt phục binh áp sát thành đánh tiêu hao nhiều sinh lực địch, cản bước tấn công, càn vào nội địa.

Sau 18 tháng 22 ngày tấn công Đà Nẵng, quân Pháp vẫn không chiếm được Đà Nẵng, đành phải rút lui khỏi thành Điện Hải. Trước khi rút quân chúng đã phá hủy nhiều đồn lũy của ta, trong đó có thành Điện Hải.

Sau khi thực dân Pháp chiếm hoàn toàn nước ta năm 1885 và đến năm 1888 Đà Nẵng trở thành đất nhượng địa của Pháp thì quân Pháp đã lấy thành Điện Hải làm bệnh viện quân y, chữa bệnh cho sĩ quan và binh lính Pháp ở Trung Kỳ, bệnh viện tồn tại cho đến năm 1954. Trong quá trình xây dựng, chúng đã phá hủy toàn bộ các cấu trúc bên trong thành Điện Hải, chỉ cho giữ lại các tường thành bằng gạch và các hào bao quanh. Ngoài ra, chúng còn cho xây dựng một nhà nguyện với tháp cao ngay trong thành.

Sau năm 1954, nước ta tạm chia làm 2 miền. Quân Pháp rút khỏi Hà Nội, Hải Phòng nên chúng đã đưa các trường Pháp ở đó vào sáp nhập với trường Pháp ở Đà Nẵng thành lập trường Trung học Pháp Đà Nẵng và lấy cơ sở bệnh viện của quân Pháp ở thành Điện Hải làm trường lớp. Về sau thì đổi tên trường là Trường trung học Blaise Pascal dạy bằng tiếng Pháp.

Đến đầu năm 1974, chính quyền Sài Gòn quyết định thành lập Đại học Cộng đồng Quảng Đà, lấy địa điểm trường Trung học Nguyễn Hiền làm cơ sở giảng dạy.

Những năm gần đây, công tác tôn tạo, trùng tu, sửa chữa lại thành Điện Hải đã được thực hiện dần trả lại diện mạo vốn có của một kiến trúc quân sự- một chứng tích lịch sử tiêu biểu của Đà Nẵng. Với những giá trị to lớn, thành Điện Hải đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt năm 2017.