Mộ chum Tabhing

Thông tin
Chất liệu Đất nung
Niên đại Cách ngày nay khoảng 2500 - 2000 năm
Kích thước Mộ chum cao: 70cm, Đường kính: 52cm. Nắp mộ cao: 24 cm, Đường kính: 45 cm
Nguồn gốc Khai quật tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam năm 1986

Nội dung

Năm 1909, nhà khảo cổ học người Pháp M. Vinet lần đầu phát hiện ở Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) có khoảng 200 mộ chum. Di tích khảo cổ đó được gọi là Dépot à Jarres Sa Huỳnh (nghĩa là kho chum Sa Huỳnh). Qua hơn 100 năm được khai quật và nghiên cứu, mộ chum - điểm nhấn của nền văn hóa Sa Huỳnh - được các nhà khảo cổ xác định niên đại từ 2.000 đến 3.000 năm được phân bố rộng, tập trung chủ yếu ở miền Trung Việt Nam. Có thể nói, hình thức mai táng người chết bằng mộ chum là một đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh và mộ chum là hiện vật độc đáo nhất của nền văn hóa này.

Mộ chum Sa Huỳnh đa dạng về kích thước và kiểu dáng như mộ chum hình trụ, chum hình trứng, chum có hình dáng trung gian giữa hình trụ và hình trứng, chum hình cầu,… Chum thường có nắp hình nón cụt đáy bằng, loại gần hình chóp nón đáy gần nhọn, loại hình cầu đáy lòng chảo.

Từ những nghiên cứu về mộ chum Sa Huỳnh cho thấy cư dân văn hóa Sa Huỳnh có nhiều hình thức mai táng: cải táng, hỏa táng, mộ táng trẻ em và mộ tượng trưng. Cho đến nay, gần như chưa xác định được cách mai táng duy nhất của người Sa Huỳnh. Họ có cả nguyên táng, tức là chôn người chết nguyên vẹn, có cả hỏa táng, tức là thiêu người chết rồi đưa tro hài vào chum, có cả cải táng. Đặc biệt, hình thức táng chung cho một số người mà hiện nay chưa xác định được những người được táng chung là vợ chồng, cha con và mẹ con, có thể nhận thấy điều ấy qua tuổi của các xương và tro hài khác nhau.  

Trong chum chứa nhiều đồ tùy táng gồm các chất liệu đá, gốm, sắt, đá quý, thủy tinh rất đa dạng về loại hình: công cụ lao động, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt, trang sức… Đặc trưng về di vật là sự phổ biến của công cụ lao động bằng sắt, đồ gốm tô màu trang trí nhiều đồ án hoa văn khắc vạch, đồ trang sức bằng đá ngọc, mã não, thủy tinh như vòng, hạt chuỗi, khuyên tai ba mấu, khuyên tai hai đầu thú…

Như vậy, qua đồ tùy táng và cách thức mai táng cho thấy người Sa Huỳnh rõ ràng là đã có một tổ chức xã hội quy củ và có một tập tục đã xác định có tính truyền thống với tín ngưỡng hướng về thế giới bên kia. Những mộ chum được làm cẩn thận chứng tỏ thái độ kính trọng và tiếc thương với người đã khuất. Những đồ tùy táng đẹp cho thấy sự ưu ái dành cho người chết, hoặc giả đó là những của cải của người chết mà người sống vẫn chôn theo, để về thế giới bên kia họ có đồ dùng, của cải để sử dụng.