Chí sĩ Phan Châu Trinh qua các tư liệu, hiện vật lưu trữ tại Bảo tàng Đà Nẵng

Ngày đăng: 12/04/2026

Phan Châu Trinh “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam” với tư tưởng canh tân đổi mới đã khởi xướng phong trào Duy Tân, góp phần chấn hưng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước; phát triển nhiều ngành nghề mới, xây dựng nền giáo dục và văn hóa mới. Tầm nhìn và cống hiến của Phan Châu Trinh dù một thế kỷ đã trôi qua nhưng vẫn còn nguyên giá trị, những triết lí, tư tưởng của cụ mang tính chiến lược, thời đại; đặc biệt trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

100 năm kể từ ngày Nhà yêu nước Phan Châu Trinh qua đời, những thế hệ hôm nay vẫn luôn nhớ về Phan Châu Trinh, nhớ về nhà cách mạng, nhà văn hóa - giáo dục lớn.

Quê hương và thời đại

Để có một Phan Châu Trinh “lừng lẫy làm cho lở núi non” thì quê hương, gia đình và thời đại được xem như là những viên gạch quan trọng để hình thành tư tưởng, phẩm chất và hành động của cụ.

Về quê hương, Đà Nẵng trong suốt chiều dài lịch sử , được  xem là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có truyền thống văn hóa lâu đời, là vùng đất mở, có sự giao thoa, đan xen, kế thừa và hội tụ của nhiều nền văn hóa lớn như văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt. Vùng đất chịu nhiều thử thách khắc nghiệt của tự nhiên, chiến tranh… Đà Nẵng cũng là nơi sản sinh của nhiều bậc chí sĩ, hào kiệt, những người con ưu tú đóng góp tài năng, trí tuệ cho đất nước, trong số đó Phan Châu Trinh nổi bật như một ngọn cờ dân chủ mạnh mẽ nhất, tiêu biểu cho trào lưu canh tân đất nước vào đầu thế kỷ XX.

Khi đất nước lâm vào tình thế đầy biến động: năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, năm 1861 chiếm Nam Kỳ, năm 1873 chiếm Bắc Kỳ và năm 1885 chiếm kinh thành Huế; Việt Nam trở thành thuộc địa của nước Pháp, nhân dân ta “một cổ hai tròng” bị bóc lột bởi sưu cao, thuế nặng. Các phong trào chống thực dân phong kiến nổ ra, nhất là phong trào Cần Vương đã hiệu triệu các văn thân sỹ phu yêu nước đứng dậy đấu tranh. Lúc này, Đà Nẵng hưởng ứng mạnh mẽ với Nghĩa hội của Trần Văn Dư và Nguyễn Duy Hiệu. Cha của Phan Châu Trinh là Phan Văn Bình (mất năm 1887), trước là quan võ dưới triều Nguyễn, sau giữ chức Chuyển vận sứ của Nghĩa hội. Mẹ là bà Lê Thị Trung (mất năm 1878) con gái nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước. Truyền thống quê hương và gia đình đã ươm mầm tinh thần yêu nước, sự khẳng khái, hào hiệp cũng như lòng hiếu học của Phan Châu Trinh.

Đặc biệt khi những trào lưu tư tưởng mới như học thuyết dân quyền, dân chủ tư sản của Montesquieu, J.J. Rousseau, Voltaire, cuộc Cách mạng Pháp 1789, Cách mạng Tân Hợi của Trung Hoa năm 1911, hay tư tưởng canh tân của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… cũng được truyền bá vào trong nước. Không ít các sỹ phu Quảng Nam đương thời đã tiếp thu những tiến bộ từ phương Tây trên các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, đạo đức, chính trị, kinh tế… với tư duy sáng tạo, đổi mới. Trong đó, tư tưởng canh tân của Phan Châu Trinh là một sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại và những thành tựu của văn minh phương Tây.

 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh (1872 – 1926) tự là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã. Khoa Canh Tý (1900), ông đỗ cử nhân ở trường Thừa Thiên. Năm 1901, đỗ phó bảng, được bổ nhiệm làm Thừa Biện Bộ Lễ (1902). Đến năm 1904 ông xin từ quan, bắt đầu liên lạc với nhiều sĩ phu yêu nước đương thời. Trước tình hình đất nước, ông chủ trương đánh đổ phong kiến, giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội, là “cha đẻ” phong trào Duy Tân với khẩu hiệu: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh và phong trào chống thuế Trung Kỳ (1908).

Trước sự phát triển của phong trào, Pháp tiến hành đàn áp dã man. Năm 1908, ông bị bắt, đày đi Côn Đảo. Đến năm 1911, được trả tự do trước thời hạn. Sau đó, ông sang Pháp. Tại đây, ông cùng các nhà yêu nước, nhân sĩ tiến bộ như luật sư Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành... tích cực đấu tranh đòi quyền tự do và độc lập cho dân tộc Việt Nam.

Cuối năm 1925, nhận thấy tình hình không ổn cộng với sức khỏe suy giảm Phan Châu Trinh tìm cách về nước. Tại Sài Gòn, ông vẫn tiếp tục tổ chức các buổi diễn thuyết song bệnh nặng và qua đời ngày 24-3-1926. Đám tang của ông đã trở thành một phong trào chính trị cổ vũ tinh thần yêu nước của đồng bào, nhất là thanh niên, học sinh.

Ngoài hoạt động chính trị, Phan Châu Trinh còn là nhà văn, nhà báo, nhà soạn tuồng… với nhiều tác phẩm giá trị. Thông qua ngòi bút, ông đã chuyển tải tư tưởng yêu nước, thương dân, lên án chính sách bóc lột, đàn áp tàn bạo của thực dân, phong kiến và đấu tranh cách mạng. Các tác phẩm nổi bật như “Đầu Pháp chính phủ thư”, “Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam”, “Cuộc ngoại nhân kim nhật chi Trung Quốc quan”, “Ký Khải Định hoàng đế thư”, “Tây Hồ Santé thi tập”, “Tỉnh quốc hồn ca” và rất nhiều bài báo khác... đã thể hiện sự thiết tha của một tấm lòng, một nhân cách yêu nước vĩ đại.

 Một số hiện vật, hình ảnh về Phan Châu Trinh hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Đà Nẵng

1. SÁCH TỈNH QUỐC HỒN CA

Tỉnh quốc hồn ca gồm hai phần: Phần I gồm 467 câu thơ và Phần II gồm 500 câu thơ, đều bằng thể song thất lục bát nhưng ra đời vào hai thời điểm khác nhau. Năm 1906, Phan Châu Trinh từ Nhật trở về, ông viết Tỉnh quốc hồn ca I. Năm 1907, tác phẩm được phổ biến lần đầu tiên tại các trường kiểu mới ở Quảng Nam và Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, sau đó lan truyền ra nhiều nơi khác. Tập II, được ông viết ở Paris. Nội dung tập thơ tập trung cổ súy tân học bằng cách kêu gọi đồng bào học chữ quốc ngữ, hớt tóc ngắn, mặc đồ tây, từ bỏ cái hư hèn mà xã hội phong kiến, thực dân làm nảy sinh… Sách Tỉnh quốc hồn ca hiện được trưng bày tại Bảo tàng Đà Nẵng do phòng Văn hóa – Thông tin quận Thanh Khê (nay là phòng Văn hóa – Xã hội phường Thanh Khê) chuyển giao năm 1998.

*Nhóm những hiện vật của Phan Châu Trinh lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Đà Nẵng được bà Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) – cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh tặng cho bảo tàng vào ngày 27/8/1990.

2. DI THẢO (Trung Kỳ dân biến thỉ mạt kí)

Phong trào chống thuế diễn ra vào những năm đầu của thế kỷ XX trên một địa bàn rộng lớn nhưng quyết liệt nhất là vào năm 1908. Những cuộc biểu tình và bạo động bắt đầu được giấy lên ở Quảng Nam (Đà Nẵng) vào tháng 3/1908 và lan rộng mau chóng thành một phong trào rộng lớn ở nhiều tỉnh. Phong trào nhanh chóng bị đàn áp, một số người bị đi chém hay đày đi Lao Bảo, Côn Lôn.

Năm 1911, khi sang Pháp, Phan Châu Trinh đã viết tập san này trình lên cho Hội nhân quyền và dân quyền ở Paris, Albert Sarraut lúc đó sắp sang nhậm chức toàn quyền Đông Dương và Missiny Thượng thư bộ Thuộc địa Pháp, để xét lại bản án của các thân sĩ Trung Kỳ, đặc biệt là bốn người bạn của ông đang thụ án tù ở Côn Đảo. Nguyên thảo bằng Hán văn, ông dịch sang tiếng Việt đưa cho ông Julles Roux dịch sang tiếng Pháp. Tác phẩm với cái nhìn phân tích, lí giải gồm: phần thứ nhất (chương I, II, III) là phần biện minh trước lời buộc tội hồ đồ và vô căn cứ của bản án; đồng thời phê phán thái độ, thực học và tư cách của bọn quan lại tay sai. Phần hai (Chương IV) tác phẩm trình bày các sự việc xảy ra từ Thanh Hóa đến Bình Thuận mà thân sĩ và nhân dân phải gánh chịu bởi quyết sách đàn áp dã man của thực dân Pháp và quan lại tay sai Nam triều. Tác phẩm được xuất bản tại Paris năm 1912, đã gây tiếng vang lớn, buộc chính phủ Pháp phải thay đổi về chính sách và nhân sự ở Đông Dương.

Sau này, con rể cụ là dịch giả Lê Ấm đã dịch lại để xuất bản, còn bản thảo được gia đình giữ gìn cẩn thận và tặng lại cho bảo tàng Đà Nẵng năm 1990.

3. SÁCH “TÂY HỒ VÀ SANTÉ”

Ngày 14/9/1914, cụ Phan Châu Trinh bị giam giữ tại ngục Santé. Suốt 10 tháng trong ngục, ngoài việc đấu tranh để được tự do với 4 lần viết thư “máu lửa” gửi chúa ngục Curon, mấy lần viết thư cho J. Roux, luật sư Mutet, Phan Châu Dật, Phan Châu Trinh còn làm thơ. Sau khi ra tù ông tập hợp các bài thơ đã làm thành Santé thi tập.

Tác phẩm ra đời trong nhà ngục với không khí đấu tranh “ngẹt thở” cận kề cái chết, nhưng thơ lại rất điềm tĩnh, đầy tính nhân văn, như nhà giáo Châu Yến Loan đã nhận định: “Ra đời trong chốn lao tù nhưng rất ít nói chuyện lao tù mà nặng về giáo dục. Mỗi bài thơ là một lời giáo huấn rất sâu sắc, thiết thực, khoa học, tiến bộ được diễn tả bằng tất cả tấm lòng chân thành, thiết tha của Phan Châu Trinh, dựa trên nền tảng đạo lý dân tộc…” (Phan Châu Trinh, nhà giáo dục qua Santé thi tập, báo Thanh Niên số ngày 17.11.2005).

Năm 1961, ông Lê Ấm đã sao lục các di thảo của Phan Châu Trinh và cho in thành một tập có nhan đề là: Tây Hồ và Santé thi tập. Sách gồm 2 phần, phần Tây Hồ gồm 69 bài, phần Santé thi tập gồm 226 bài. Sách do Nxb Lê Thị Đàm xuất bản.

4.SÁCH “THƯ THẤT ĐIỀU”

Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Chuyến đi kéo dài gần 3 tháng và tốn kém này đã làm dấy lên nhiều hoạt động của người Việt Nam yêu nước nhằm phản đối ông, trong đó “Thư thất điều” của Phan Châu Trinh gửi Khải Định đã vạch ra 7 tội của người đứng đầu triều đình nhà Nguyễn. “Thư thất điều” là bức thư độc nhất vô nhị trong lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, trong bài văn tế Phan Châu Trinh, Sào Nam Phan Bội Châu đánh giá “Thư thất điều đón giá như Tây, uy sấm chớp chẳng kinh cùng chẳng hãi”.

Cuối bức thư, Phan Châu Trinh nói rằng “Bức thơ này một bản viết bằng Hán văn và gởi cho bệ hạ, ngoài ra còn dịch ra Pháp văn để đăng lên các báo và phát đơn ra để cầu người Pháp công đoán”, tuy nhiên sau đó ông có dịch sang quốc ngữ một bản.

Năm 1958, cụ Lê Ấm (1898 - 1976) và Nhà xuất bản Anh Minh xuất bản cuốn “Thư thất điều – Di cảo của cụ Phan Châu Trinh” và có nói rất rõ về bản dịch trong Lời nhà xuất bản: “Bức thư nầy Tây Hồ tiền sinh viết bằng Hán văn, có nhờ dịch ra Pháp văn đăng các báo ở Paris, lại tự tiên sinh dịch ra quốc văn nhưng rồi bị cấm. Riêng bản nguyên cảo thủ bút tác giả (Hán văn và Quốc văn) ông bà Lê Ấm (Trưởng nữ và con rể tiên sinh) còn giữ được cho đến ngày nay, nhưng trải qua nhiều cuộc tang thương của lịch sử, đoạn cuối đã bị thất lạc. Nay ông Lê Ấm sao lại và dịch tiếp đoạn thất lạc ấy theo bản Hán văn (thủ bút) cho chúng tôi xuất bản để lưu một sử liệu chân xác cho ngày sau”.

“Thư thất điều” mà Bảo tàng Đà Nẵng đang trưng bày là một trong những cuốn được in vào năm 1958, được gia đình lưu giữ cẩn thận và tặng lại cho bảo tàng vào ngày 27/8/1990.

Bên cạnh những tài liệu do Phan Châu Trinh sáng tác, Bảo tàng Đà Nẵng còn trưng bày, lưu giữ một số tài liệu có liên quan đến cụ như:

 5. Ảnh chụp: Lá thư của Nguyễn Tất Thành gửi Phan Châu Trinh từ Southampton, thông báo chuẩn bị lên tàu rời khỏi nước Anh, 1913. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Tất Thành. Phan Châu Trinh cũng là người hỗ trợ, giúp đỡ Nguyễn Tất Thành trong khoảng thời gian Người hoạt động ở Pháp. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành luôn một lòng tôn kính.

6. Ảnh chụp: Giấy mời đến dự buổi diễn thuyết của cụ Phan Châu Trinh tại hội quán “Sociétés Savantes”, Paris (25-5-1925): Diễn thuyết là một thế mạnh của ông. Trong các thông báo mời dự, tên tuổi ông thường được giới thiệu rất trân trọng: “buổi diễn thuyết mà do giá trị cao và uy tín của diễn giả sẽ được xếp vào loại lý thú nhất và có giá trị giáo dục cao nhất”. Những buổi diễn thuyết của Phan Châu Trinh đã giúp ông có nhiều dịp tiếp xúc với Việt kiều cũng như công dân Pháp, để qua đó tố cáo những tệ lậu của việc cai trị ở thuộc địa của chính phủ Bảo hộ, sự thối nát của bộ máy quan lại Nam triều, trình bày và giải thích ý nghĩa những sự kiện cải cách mà ông yêu cầu ở chính phủ Pháp. Đặc biệt là các Việt kiều yêu nước, được nghe ông diễn thuyết, được tiếp xúc trực tiếp với ông, sẽ cảm thấy yêu thương và gần gũi Tổ quốc hơn, bớt cô đơn hơn trên đất khách quê người, cần đoàn kết với nhau hơn để tồn tại và giúp ích cho Tổ quốc trong khả năng của mỗi người.

7. Hình ảnh đám tang cụ do gia đình hiến tặng: Bộ ảnh do Khánh Ký (nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Khánh) và cộng sự thực hiện. Phóng sự ảnh ghi lại đám tang cụ Phan diễn ra ngày 4/4/1926 với nhiều bức ảnh rất kỳ công giúp đời sau có thể hình dung được quy mô và tính chất của đám tang, thu hút hàng chục ngàn người, phản ánh hào khí của lớp lớp người Sài Gòn và các nơi khác cùng tuần hành biểu thị lòng thương tiếc đến nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Bộ ảnh được gia đình lưu giữ và tặng cho bảo tàng ngay 27/8/1990.

Ngoài ra còn một số tài liệu liên nghiên cứu về Phan Châu Trinh do các cá nhân hiến tặng cho Bảo tàng như:

8. Tập san kỷ niệm 100 năm năm sinh của chí sĩ Phan Châu Trinh (1872 - 1926) do Mặt trận Văn hoá Dân tộc ấn hành và phổ biến năm 1972Tập San được bà Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) - cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh hiến tặng cho Bảo tàng 27/8/1990.

 9. Đặc sản đặc khảo về Phan Chu Trinh do Hội Khuyến học Đà Nẵng và Bách khoa đã xuất bản (1974) được Ban liên lạc tù chính trị Côn Đảo thành phố Đà Nẵng sưu tầm. Ông Phạm Văn Ba - Trưởng Ban liên lạc Tù Chính trị tại Đà Nẵng hiến tặng cho Bảo tàng, ngày 23/4/2002.

Thay lời kết

Phan Châu Trinh - một sĩ phu thiết tha yêu nước, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp dân tộc.  Cụ như ngọn cờ khởi xướng tinh thần duy tân, cải cách, đổi mới đất nước vào đầu thế kỷ XX, khao khát tự lực, tự cường, với khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Cụ qua đời vì bệnh nặng nhưng nhiệt huyết cách mạng giành cho công cuộc đổi mới không thay đổi: “cây già thì gió dễ lay, người già thì trí lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong mà hơi tàn cũng phải gào cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hôn mê…”.  

Dẫu không còn nữa nhưng những giá trị mà Phan Châu Trinh để lại vẫn tiếp tục được trao truyền đến thế hệ hôm nay. Và Bảo tàng Đà Nẵng – một thiết chế văn hóa quan trọng của thành phố tự hào là địa chỉ lưu giữ, trưng bày những hiện vật, tài liệu về Phan Châu Trinh do chính gia đình cụ và một số cá nhân, tổ chức hiến tặng. Dù những hiện vật, tài liệu này còn rất ít so với kho tàng văn thơ cụ để lại nhưng cũng là những dấu ấn quan trọng để chúng ta có thể nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng.

2. Lê Thị Kinh (2001), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb Đà Nẵng.

3. Châu Yến Loan (2005), Trường tân học Phú Lâm – Một mô hình giáo dục mới của phong trào Duy Tân, đăng trên báo Thanh niên.

4. Huỳnh Lý (1993), Phan Châu Trinh thân thế và sự nghiệp, Nxb Đà Nẵng.

5. Nhiều tác giả (2023), Kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng.

 

Phan Ngọc Mỹ - Bảo tàng Đà Nẵng