Địa chỉ sưu tầm: NNC. Phùng Tấn Đông - Nguyên chuyên viên phòng VH-TT, TTTH Thành phố Hội An
HỆ THỐNG BÀI BẢN, THỂ THƠ VÀ CÁCH ỨNG TÁC TRONG BÀI CHÒI XỨ QUẢNG
NNC. Phùng Tấn Đông
Nguyên chuyên viên phòng VH-TT, TTTH Thành phố Hội An
1. Bài chòi - trò chơi, trò diễn dân gian
Bài Chòi là một trò chơi dân gian có tính chất diễn xướng. Diễn xướng được hiểu là những màn trình diễn nghi lễ (tế, tụng, quỳ, lạy, vái, khấn…) hay những màn diễn trò có ca, hát, múa,nhảy với trang phục, đạo cụ,âm nhạc…của một hay nhiều người theo một bài bản, trình thức được các thế hệ trước, sau trao truyền một cách ổn định nhằm tưởng niệm công tích của đối tượng thờ cúng, thoả mãn nhu cầu tâm linh, nhu cầu cộng cảm, đồng cảm, vui chơi của những người tham gia hội lễ của cộng đồng.Theo các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian thì “diễn xướng gợi nhớ đến một phương thức thông tin nổi bật và được để ý về mặt mỹ học, được bố trí theo một cách đặc biệt và được đưa ra trình diễn trước một cử toạ.Việc phân tích sự diễn xướng-thực ra chính là bố cục của cuộc diễn xướng-làm nổi bật các mặt xã hội, văn hoá,mỹ học của quá trình thông tin” (1).Diễn xướng ở Quảng Nam có thể phân ra các loại hình diễn xướng như:-diễn xướng nghi lễ trong lễ hội/lễ tục như diễn xướng hát/múa Bả Trạo (trong cúng tế cá Ông, lễ cầu ngư);hô hát nhảy múa trong lễ cúng đất, trừ ôn; hát múa đưa linh trong tang ma;diễn xướng mang tính trò chơi, giải trí như hô thai, hô bài chòi, hô lô tô, hát đồng dao(trẻ em).hát hò khoan đối đáp, hô hát các điệu hò tập thể có nguồn gốc từ các hoạt động nghề nghiệp trong đời sống như các điệu hò giã đậu, hò giã gạo, hò giã vôi, hò kéo chài, hò bện dây dừa, hò tát nước…; diễn xướng vừa mang tính chất nghi lễ vừa mang tính chất giải trí, hội hè như hát múa bả trạo, hò đua ghe cúng đảo thuỷ, múa hát sắc bùa chúc xuân, múa Tứ Linh…Bài chòi là diễn xướng mang tính chất giải trí đậm tính chất tích hợp của các thành tố: trò chơi dân gian, văn học dân gian, âm nhạc dân gian, mỹ thuật dân gian, múa dân gian, kịch hát dân gian
Chính vì tính tích hợp/kết hợp/tổng hoà của diễn xướng dân gian bài chòi cho nên việc phân tích các thành tố cấu thành một cuộc chơi bài/một cuộc diễn xướng-các thành tố vốn luôn gắn bó một cách mật thiết với nhau chỉ mang tính tương đối.Bài chòi vừa là trò chơi vừa là trò diễn như câu rao của anh hiệu:
“ Bài chòi vừa hát vừa hô
Vừa nghe thơ phú vừa chờ hên, xui”
Trò chơi dân gian bài chòi ở xứ Quảng sử dụng ba mươi quân bài của bộ bài Tới phổ biến ở vùng Trung trung bộ, từ Quảng Bình (Quảng Trị) đến Quảng Ngãi mà nơi in bài giấy tương truyền ở Hương Trà (Huế), Hội An (Quảng Nam).Bộ bài Tới có 30 cặp quân bài, chia làm ba pho gồm: văn, vạn, sách.Pho vạn gồm có 10 quân gồm :Trò. Đấu,Quăn, Hương,Ngủ, Xơ, Dọn, Bồng, Thầy, Tuyết; Pho văn gồm: Ầm,Hai, Ba,Voi,Rún,Sáu Tiền, Liễu, Tám Tiền,Xe, Thái Tử; Pho sách gồm: Đượng,Nghèo,Gà,Gióng,Giày, Sáu Hột, Sưa,Tám Giây, Gối,Mỏ.Khi in ngoài 27 quân bài in trắng đen, chỉ 3 quân được đóng thêm dấu đỏ, đó là quân Ầm, quân Thái Tử và quân Mỏ
Trò chơi được tổ chức theo quy tắc,người chơi nào có quân bài trùng với quân bài được anh Hiệu hô tên là được “tới”, “tới” cả ba quân là thắng một ván bài. Vì vậy hai bộ bài được chia hai phần-Ban tổ chức mang hai ống bài ra trình hội chơi-thường người chơi ở Quảng Nam chia làm 10 chòi- phụ việc xóc mạnh từng ống cho các quân bài trộn lẫn vào nhau-ý trình cho người chơi biết việc rút quân bài nào đều có tính may rủi-xong, một ống mang về chòi Cái để bán cho người chơi, mỗi người được mua ba quân bất kỳ, một ống giao cho anh Hiệu.Như vậy, khi trò chơi tiến hành, mỗi chòi người chơi đều mua sẵn ba quân bài-anh Hiệu mỗi lượt rút một quân bài ở ống bài nọc, người chơi nếu khi nghe anh Hiệu xướng tên quân bài nào mà được trúng thì đáp lại bằng cách hô “trúng rồi” -sẽ được phụ việc trao một lá cờ con, cả ván chơi trúng hết ba con thì thắng,hô “Tới”,rồi đưa cả ba quân bài lên, anh Hiệu sẽ thông báo có người thắng cả ván rồi và người chơi sẽ được nhận lá cờ to , được nhận quà thưởng.Thường quà thưởng được nhận gấp hai, gấp ba số tiền bỏ ra mua bài để chơi chứ không nhiều vì chơi bài để thử vận may đầu năm và dành chi phí cho ban tổ chức chứ không cốt nhằm việc kiếm tiền do chơi bài, chơi bạc.
2. Quá trình hô/diễn đồng thời là quá trình “văn học hoá” văn bản bài chòi(hệ thống bài bản của văn học bài chòi)
1.2-Từ hô thai tên quân bài đến bài chòi câu
Hiện nay việc diễn xướng trò chơi bài chòi vẫn đang tồn nghi các quan niệm khác nhau về tên gọi: hô bài chòi hay ca /hát bài chòi?.Theo các nhà nghiên cứu bài chòi như Đặng Văn Lung, Phan Ngạn, Tạ Chí Đại Trường thì “…vạch xuất phát ban đầu của hô bài chòi là kể chuyện theo nguyên mẫu văn vần có âm giai, nhịp điệu.Những người ngồi nghe phụ hoạ theo lời hô từ các câu chuyện kể bằng các nhịp tay, mà biến thức của nó sau này là bộ sanh ( gõ).Ngoài ra tên gọi thông thường của hô bài chòi là hô thai.” (2)Theo nhà nghiên cứu Trương Đình Quang ở Quảng Nam “câu thai có nghĩa là câu đố”.Trong trò chơi cổ nhơn vào mùa xuân ở nông thôn “câu đề để đố người chơi xét đoán là câu thai” (3).Câu thai:
“Chỉ vì cái lưỡi đa đoan
Cho nên cúc rã lan tàn hỡi ai!”
là câu thai chỉ “cái kéo”.
Câu: “lánh mình ở chốn giang tân
Lại còn mang tiếng vi thần bất trung”
là câu thai “tranh đế”(người nghe xét đoán, suy luận “lánh mình để mọc ở bờ sông là tranh giành sự sống với con nước ,ngụ ý “giành nước” là tranh ngôi vua, tức “tranh đế” (tên một loại cỏ tranh).Như vậy từ lối chơi trò cổ nhơn người ta đã đưa lối hô thai vào hội chơi bài chòi.Vì thế “ người ta cũng dùng thuật ngữ hô thai với cái nghĩa hô câu bài chòi” (4)
Xem xét hình thức ca từ của câu thai/câu hô bài chòi thủa mới hình thành-từ câu hô mộc mạc tên quân bài theo thể lục bát với “nét nhạc gần như nói-đi dần tới câu hô không có ý nghĩa gì mà chỉ cần có tên quân bài” (5)-câu hô bài chòi đã có thêm lối diễn tấu/diễn giải thêm bằng các từ đệm như “ hơ, hượu, ư, a, mà,là…”dù lời hô có nội dung, ý nghĩa nhưng thiên về mục đích là hô tên quân bài.
Hô bài chòi chỉ thực sự hấp dẫn khi lời hô quân bài đã nâng lên thành “bài chòi câu”.Nếu quan niệm “câu là một đơn vị ngôn ngữ độc lập, bao gồm một hay nhiều từ được sắp xếp theo quy tắc ngữ pháp, diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn hoặc một thông báo và có ngữ điệu kết thúc”(6))thì lời hô mỗi quân bài chòi đã “có câu dài hơn, có tình tiết, có đầu có đuôi, trọn vẹn ý nghĩa”, đặc biệt nội dung mở rộng đến những vấn đề xã hội,phản ánh những vấn đề sát thực của đời sống có ý nghĩa liên quan đến quân bài
Bài chòi câu là khi lời hô các quân bài đã trở thành một tác phẩm văn chương, một diễn ngôn nghệ thuật. Quân bài Nhì nghèo được “văn học hoá” thành:
“Một anh để em ra
Hai anh cũng để em ra
Em về em buôn em bán
Em trả nợ bánh tráng
Em trả nợ bánh xèo
Còn dư em trả nợ thịt heo
Chứ anh đừng có lầm em nữa mà anh mang nghèo vì em”
Một tình cảnh khác, đó là phận làm dâu, từ nỗi khổ vật chất đến nỗi khổ tinh thần:
“đêm nằm tôi nghĩ tôi rầu
Làm dâu thiệt khổ từ đầu chí đuôi
Đớn đau, tối mặt, vùi đầu
Các chị thì sung sướng, riêng con dâu thì mẹ hành
Chê tôi khờ dại không lanh
Mẹ đào, mẹ bới tội tình xót xa
Công trình cha với mẹ sinh đẻ tôi ra
Gả cho con của mẹ lại còn bù của thêm
Phải ở thời chồng vợ trọn niềm
Không nên thì mỗi đứalo tìm chốn thảnh thơi
Không nên thì mỗi đứa mỗi nơi
Tôi ra khỏi cửa để mẹ kiếm nơi sang giàu
Ở chi đây mẹ mắng trước, mẹ chửi sau
Ngày nào mẹ cũng cứ nghèo với giàu mẹ đay!
Rồi là quân Cửu chùa/ông thầy chùa:
“có chồng từ sáu năm nay
Đời tôi sớm chịu đắng cay nhà người
Chồng tôi nay được mười tư
Hàng ngày chẳng thấy nói cười thử xem
Ai làm cho chả chẳng xứng nem
Tuổi xuân bỏ phí đời em đã rồi
Bởi vì cha mẹ kén sui
Đem con gán nợ mới lôi thôi thế này
Em nguyền cắt tóc quy y
Nợ trần em phủi sạch em đi theo chùa…
“Bài chòi câu”đã thực sự là một dạng thức ‘nói thơ”thành bài theo lối tự sự bằng thơ, từ việc dẫn nhập trò chơi, giới thiệu các quân bài, cách chơi, cách thắng, thua của việc chơi.
Sau khi người chơi đã cầm trên tay ba quân bài, anh Hiệu đến trước ống bài nọc, nói:
“Hiệu phát bài đã đủ…
Cho Hiệu thủ bài tì…”
Nhạc trổi lên, anh Hiệu hát chào, dẫn nhập cuộc chơi bằng câu bài chòi ‘giới thiệu trò chơi” như sau:
“ Gió xuân phảng phất nhành tre
Mời bà con cô bác lắng nghe (tui hô) bài chòi
Bài chòi, bài tới là ba mươi lá
Dang tay sớn sá là cái gã ông Ầm
Trợt té xuống hầm là cái anh Tứ Cẳng
Nước da trăng trắng là cái chị Bạch Huê
Một cổ hai kê là anh chàng Chín Gối
Ba chìm bảy nổi là cái chị Sáu Ghe
Lập bạn, lập bè là cái anh Ngủ Dụm
Lùm đùm ,lụm đụm xách bị đi xin
Là cái anh Nhì Nghèo-đã nghèo mà lại càng khổ
Hay bươi hay mổ là chú Ba Gà
Có ngạnh có ngà là cái anh Tứ Tượng
Giăng màn phủ trướng là cái chị Tam Quăn
Đò đỏ đen đen là Đượng hắn, Đượng(Nọc Đượng) hắn kia kìa…
Ớ bạn mình ơi xin hô con bài đầu…”
Hay:
“Tai nghe trống giục rộn ràng
Bà con cô bác hân hoan tìm về
Hội vui khắp phố cùng quê
Gái trai già trẻ ai cũng mê …bài chòi
Bài chòi vừa hát vừa hô
Vừa nghe thơ phú vừa chờ vận may
Bà con nhận lấy ba quân
Từ con NọcThược đến nàng Bạch Huê
Nhì Nghèo cô bác đều chê
Lên Xe xuống ngựa ai cũng mê Tám Tiền
Học Trò mê chiếm bảng vàng
Bảy Dày không thiết mấy nàng Ngủ Trưa
Sáu Tiền duyên phận đẩy đưa
Tấm thân Lá Liễu về nơi Cửu Chùa
Trải qua ba bận Tam Quăn
Bờ sông Tứ Cẳng vẫn còn dấu xưa
Bà con ghé lại mà coi
Đêm nằm Gối chiếc mà vẫn lòi ra con, ra con để em Bồng
Bài chòi có ba mươi quân
Tôi đem bỏ vô ống bài nọc,tôi xóc lên rồi tôi rút ra
Trên tay bà con đang có ba
Nghe tôi hô tên con bài nào mà cô bác trúng thì bài nhà “ăn một con”
Bà con nào ăn một,rồi ăn hai tiếp đến ăn ba
Thì hô to một tiếng “tới”sẽ có quà trao ngay
Như vậy, xét về mặt văn bản thì lời hô/ca bài chòi là một loại hình văn học dân gian mang tình nguyên hợp/tích hợp giữa ba yếu tố: ngôn từ, âm nhạc, điệu bộ tương tác giữa người hô và người nghe.Trong hô hát bài chòi vai trò ngôn từ/diễn ngôn văn học mang tính diễn đạt/biểu hiện đóng vai trò chủ yếu
Khảo sát đặc điểm nội dung lời ca trong hô/hát bài chòi thì lời ca ra đời lúc đầu nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí tại chỗ, nâng đỡ, hỗ trợ trò chơi bởi thay vì chỉ hô tên quân bài thì “lời ca” về quân bài tạo sắc thái văn nghệ nhằm thu hút khả năng suy nghĩ cảm nhận thẩm mỹ của người xem/nghe, đặc biệt những nội dung mang tính văn học ấy được “âm nhạc hoá” càng tác động đến tâm lý tiếp nhận của người chơi-lời ca nhằm mục đích gợi nghĩ, gợi tả dẫn dắt suy đoán người chơi về quân bài sắp ra.Chẳng hạn khi anh Hiệu hô ‘ai đi ngoài ngõ ào ào-hay là…hay là ông…Tượng ổng đạp rào vô đây”.Trong cách nghĩ của người xưa, con vật to lớn đi “ào ào” chỉ có thể suy đoán là con Voi/Tứ Tượng.Vậy câu hô chỉ cần chỉ ra một đặc điểm tiêu biểu của quân bài thì cảm nhận suy đoán của người nghe xuất hiện tạo nên tính hấp dẫn ngay trong lời hô anh Hiệu, rồi dân dà trò chơi tự tạo nên nhu cầu giải “câu đố hoá” của văn bản ngôn từ
2.2-Bài chòi mang đậm tính văn học
Do đời sống xã hội phát triển, nhu cầu thưởng thức văn hoá của cư dân Quảng vùng đất mới ngày càng cao, người nghe/xem bài chòi càng có nhu cầu thưởng thức những bài ca dài hơn nhất là dựa vào cơ sở ngữ liệu dân gian từ kho tàng văn học dân gian như tục ngữ, ca dao, dân ca…đã kế thừa trước đó, cùng với những bài ca phản ánh sinh hoạt hiện tại-những vấn đề của xã hội như cuộc sống lao động, tâm tư tình cảm của con người, cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến trói buộc, đề cao nhân nghĩa, phê phán thói hư tật xấu người đời, ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi tình yêu cuộc sống
“Gà tơ xào với mướp già
Vợ hai mươi tuổi chồng đà sáu mươi
Ra đường chúng bạn chê cười
Rằng đôi ông cháu kết đôi vợ chồng
Đêm nằm tưởng chiếc gối bông
Giật mình gối phải râu chồng nằm bên”
(quân chín gối)
Nội dung lời ca mang tính văn học của trò chơi bài chòi được thể hiện ở những chủ điểm sau:
-Ca ngợi tình yêu lao động: Bài chòi là sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động.Tình yêu lao đọng vốn là đề tài quen thuộc trong ca dao, dân ca thể hiện nhận thức sâu sắc về giá trị của lao động trong đời sống xã hội:
“Ai ơi chớ phụ nghề nông
Đồng cao đồng thấp ra công cấy cày
Chân bùn tay lấm càng hay
Có khi vất vả có ngày phong lưu
Muốn no thì phải chăm làm
Một hột lúa vàng bao nhiêu hột mồ hôi”
(quân bài Sáu Hột)
-”Ơ chú kia ơi, đừng có tưởng ,đừng có hòng
Tôi đây có xấu cũng dòng lo chăm
Chớ làm trai mà chỉ biết ăn nằm
Ngồi đâu cũng nói trạng, tôi không lầm mà kết duyên
Có giỏi thì cứ việc làm
Chỉ giỏi cái miệng ai cần đến anh
Có học thì phải có hành
Chớ có nói trạng, thì gà sanh ra chồn”
(quân Lục Trạng/ Chạng)
Ca ngợi quê hương, đất nước, đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, khát khao tự do, bình đẳng
Xứ Quảng Nam từng được học giả Lê Quý Đôn ca ngợi là vùng đất ruộng đồng giàu đẹp, sản vật phong nhiêu, nhâ tình thuần hậu:
“Lắng tai nghe tiếng chuông chùa
Xóm làng rộn rã vào mùa bội thu
Trăng tròn, trăng khuyết trăng lu
Đợi người tình nghĩa cho dù mấy năm”
(quân Cửu Chùa)
Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm thiêng liêng khắc sâu trong tâm khảm của mỗi con người -nhất là những con người “mang gươm đi mở cõi”, phải lao đọng vất vả để sống, chiến đấu ở vùng đất mới:
“đất Quảng Nam chưa mưa đà thắm
Rượu hồng đào chưa nhắm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Hỏi nơi mô ơn trượng nghĩa dày cho bằng ta
Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa
Nghĩ người gối chiếc buổi sương sa lạnh lùng”
(quân Chín Gối)
Lời ca bài chòi ca ngợi những người anh hùng có công giữ nước, thể hiện tình yêu đất nước nhân dân sâu sắc, chiến đấu hy sinh nhằm hiệu triệu nhân dân nêu cao lòng yêu nước, hun đúc ý chí đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
“bốn chân như bốn cột đình
Vừa đi vừa quạt vừa khinh sự đời
Buộc dây bền chặt như trời
Nhổ tung cây cối bao người thất kinh
Một người sức địch muôn binh
Cùng Bà Trưng, Bà Triệu chiến chinh ngang tàng
Quang Trung sử dụng từng đàn
Giặc Thanh tan tác, huy hoàng chiến công
Việt Nam đất nước anh hùng
Vì yêu Tổ quốc nên cùng lập công”
(Quân Tứ Tượng-Dái Voi)
Trong cuộc sống hiện nay, bài chòi cũng thể hiện khát vọng”thoát nghèo,làm giàu” xây dựng cuộc sống ấm no, giàu đẹp:
“Bây giờ làng xóm đông vui
Cái nghèo, cái đói đã lùi về sau
Ngày mai vươn tới đẹp giàu
Bên nhau đoàn kết chung tay xây đời”
(quân Nhì Nghèo)
-Bài chòi ca ngợi đòi sống đạo đức ,nhân nghĩa
Thông qua lời hô/ca bài chòi nhân dân cũng nhắm đến giáo dục con người bằng cách đề cao phẩm hạnh, đạo đức mang đậm tính nhân văn của con người:
“Ăn ở sao cho xứng lòng người
Bụng dạ mà bất chính, thiên hạ cười, mà cười thúi râu”
(quân Ba Gà)
Lời ca chê bai những người ăn ở “hai lòng”, thiếu sự thuỷ chung, thuần hậu:
-”nhớ khi xưa ăn ở trên thuyền
Vì anh bán muối cho nên mặn mà
Rồi em đi bán chợ xa
Em gặp người bán trứng em hoá ra em hai lòng”
` (quân Bánh Hai)
Lời ca phê phán những người “siêng ăn nhác làm” chê những người sống luộm thuộm, ăn mặc nhếch mhác, lôi thôi:
“Làm thân con gái chẳng lo
Ngủ Trưa đứng bóng dậy đo mặt trời
Quần áo thì rách tả tơi
Lấy rơm mà túm mỗi nơi mỗi đùm”
(Quân Ngủ Rún)
-”Dụm miệng để kể chuyện bày hay
Chuyện ông cũng thúi, chuyện bà cũng chẳng thơm”
(Quân Ngủ Dụm)
Lời hô hát bài chòi rất quan tâm đến những sự việc vui buồn làng xóm, chuyện ứng xử, đối đãi giữa người với người để thông qua đó-gợi ý tứ để con ngưqời suy nghĩ về đạo đức, lối sống của mình
-”Làm điều lành tránh điều không phải
Đối đãi mọi người tử tế trước sau
Thuận hoà trên dưới có nhau
Tình làng nghĩa xóm đượm màu nhân văn”
(Quân Cửu Điều)
Ca ngợi truyền thống hiếu học
Xứ Quảng là vùng đất có truyền thống hiếu học.Nơi đây người dân tự hào là vùng đất “địa linh nhân kiệt” vì thế lời hô hát bài chòi cũng hướng đến việc “khuyến học, khuyến tài”:
-”Gái quốc sắc, trai anh hùng hào kiệt
Lâm trận đồ há uý tử sanh
Gái như nàng thiệt đúng gái lành
Trai như Kim Trọng xứng danh sĩ hiền
Dẫu mà anh có xiêu bạt mấy niên
Anh cũng tìm về chốn cũ, kết nguyền phu thê
Anh luôn nhớ mảnh trăng thề
Bên anh đọc sách có em kề quay tơ”
(Quân Nhứt trò)
Hay câu:
_” Chị ơi em đã trở về
Kinh thành bảng hổ đã đề tên em
Bao năm kinh sử sách đèn
Từ nay vinh hiển, tổ tiên rạng ngời
-em ơi chị có mấy lời
Khuyên em phải biết ai người báo ơn
Gia đình lo áo lo cơm
Ra vô chỉ vẽ thiệt hơn ở đời
Cho em cả một khoảng trời
Để em vùng vẫy đua bơi cùng người
Nghĩa, nhân, lễ, trí em ơi
Cương, thường, trung ,tín ai ngời bảo ban
Giờ em mũ áo xênh xang
Mẹ cha vui sướng, họ hàng tin yêu
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”
(Quân Cửu Chùa)
-Bài chòi ca ngợi tình yêu đôi lứa:
Tương tự ca dao, dân ca cả nước, lời ca/hô hát bài chòi luôn thể hiện tình yêu đôi lứa vì đó là đề tài muôn thuở của văn hoá nghệ thuật, tình yêu luôn đấu tranh với nhiều trở lực do định kiến giai tầng, do sự phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội, sự áp đặt của xã hội nam quyền, do hoàn cảnh riêng tư éo le nhiều nỗi.Chính những trở lực đó càng làm cho tình yêu đích thực có tiếng hát, có lời than vãn và cao nhất là khát vọng tựu thành viên mãn
-”Em về cuốc đất trồng cau
Cho anh dặm ké dây trầu một bên
Bao giờ cau nọ lớn lên
Trầu cau hoà hiệp làm nên cửa nhà
Sinh con đẻ cái cùng nhau
Bốn dấu chưn in đậm gốc cau giàn trầu”
(Quân bài Tứ Cẳng-Hương)
-”Sáng mai thức giấc, vấn điếu thuốc, vác cái cuốc ra đồng
Tai nghe em bậu lấy chồng
Lia điếu thuốc, vứt cái cuốc, giậm chân kêu bớ trời
Ai làm cho loan phượng lìa đôi…”
(Quân bài Bánh Hai)
Quan niệm xưa, thời lễ giáo phong kiến-với những quan niệm như “môn đăng hộ đối”, “nam nữ thụ thụ bất thân”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”…là những nguyên nhân làm tan vỡ bao nhiêu đôi lứa…Trong những dịp hội hè, không khí vui tươi ngày tết, anh chị Hiệu thường hát những câu hát vui, thể hiện khao khát lứa đôi có tính vui đùa, lạc quan, yêu đời:
-”Một bậu nói rằng không
Hai bậu nói rằng không
Chớ dấu chân ai đứng ở bờ sông hai người
Hai người thì có bốn chưn
Đó là tứ cẳng bớ nàng, bớ anh”
Hay hô hát táo bạo hơn:
-”Anh thì nói không thương
Chị thì cứ chối quanh chối co
Tui nói thiệt cho bà con biết chuyện quanh co thế này…
Rằng tối hôm qua tôi đi ra gò
Tôi thấy anh thương chị…bốn cái giò nó tréo ngoe…”
(Quân Tứ Cẳng)
-”Con cu nó ăn đậu ăn mè
Nó ăn chi của chị mà chị đè con cu tôi
Hắn ăn mè ăn đậu của tôi
Đến anh tôi cũng xử chớ con cu tôi cứ đè”
(Quân Chín Cu)
-”Xu xoa chị bán mấy đồng
Chị ngồi chị để cái mồng chị ra
Con gà hắn tưởng hột khổ qua
Nó mổ cái trốc chị la quó làng…”
(Quân Bạch Huê)
3-2-Đặc điểm thi pháp lời hô/ca bài chòi
Xét trên bình diện thi pháp văn học dân gian, việc tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật của lời hô/ca bài chòi như thể thơ, giọng điệu, cấu trúc ngôn ngữ, những biện pháp nghệ thuật là hết sức quan trọng vì “thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện” (7)
Trước hết, nếu trong thơ cổ điển thuộc văn học thành văn thời Trung đại thiên về điệu ngâm thì ca từ của bài chòi câu thiên về thơ điệu nói-thơ trữ tình dân gian điệu nói, đúng như các nhà nghiên cứu thi pháp nhận định “trong thơ cổ điển, người nào càng gần với dân gian thì trong thơ có hình thức điệu nói.Càng xa dân gian thì càng gần với điệu ngâm (thơ Hồ Xuân Hương, Tú Xương là thơ điệu nói)” (8)
-Về thể thơ
+ Thể lục bát
Có thể thấy lục bát là thể thơ phổ biến nhất,trước hết là các câu hô trong “ứng tác” tại Hội bài chòi (còn gọi là hát “kiến tại”) của anh, chị Hiệu của nghệ thuật trò chơi bài chòi (Bai Choi games) và sau là bài chòi biểu diễn(Bai Choi performance) của các diễn viên sân khấu ca kịch Bài chòi
Bài chòi lục bát gồm một câu sáu (lục) và một câu tám (bát):
“Làm thân con gái chẳng lo
Ngủ trưa đứng bóng dậy đo mặt trời”
(Ngủ Trưa)
“”Đi đâu mang sách đi hoài
Cử nhân chẳng đậu, tú tài cũng không”
(Nhứt Trò)
+Thể lục bát biến thể:
Trong hô hát bài chòi có khá nhiều câu lục bát biến thể tức có sự thay đổi về vần-như vần bằng hiệp giữa từ/chữ số 6 của câu sáu không rơi vào từ/chữ số 6 của câu tám mà rơi vào từ/chữ số 4 của câu tám
-” Dụm miệng kể chuyện hai, ba
Chuyện ông, chuyện bà kẻ thúi ,người thơm”
(Ngủ Dụm)
Câu lục bát biến thể có sự thay đổi ở số từ các dòng sáu hoặc tám.Biến thể câu sáu (câu lục);
“Chú giỏi sao chú chẳng đi thi
Cứ ăn xó bếp ngủ thì chuồng trâu
Chú trạng không xứng trạng tui có hầu cũng uổng công”
(Lục Trạng/Chạng)
-Biến thể câu Tám (câu bát):
“Đói lòng ăn hột chà là
Trước mặt năm sáu đứa bạn, nuốt vô thời đắng mà nhả ra là bạn cười”
(Sáu Hột)
Câu lục bát biến thể cả câu Sáu lẫn câuTám:
“Nước trong xanh chảy quanh hang dế
Sách vở anh dùi mài, vậy mưu kế anh đâu?”
(Nhứt Trò)
Hoặc biến thể chung:
- “Nòi tròn thì úp vung tròn
Nồi méo thì úp vung méo
Bạn ở làm sao cho khôn cho khéo
Vung méo úp nồi tròn”
(Thất Vung-Nhọn)
-Thể song thất lục bát:
Mặc dù thể thơ này rất khó trong việc hô/hát bài chòi vì nó “luôn bị tình trạng trục trặc, rời rạc của hai câu thất (diễn tiến giai điệu có tính chu kỳ) .Do điệu hát vừa vào nhịp êm ả ở hai câu thơ lục bát, bỗng tiếp theo gặp ngay sự thay đổi tiết tấu, cao độ và vị trí của thanh điệu chủ ở hai câu song thất lục bát vì phải theo sự thay đổi của tiết thơ.Rồi cứ như thế, đoạn hát bị lập lại nghe rất giống nhau, rất nhàm tai” (9).Tuy vậy lời hô vẫn sử dụng thể thơ này vì rất cần cho những lúc chuyển điệu:
-”Có thằng cha nghênh ngang trời đất
Cứ mặt mày đỏ gắt tối ngày
Ầm ầm khi tỉnh khi say
Ông chê bà trách chầu rày xin thôi”
( Ông Ầm)
+Các thể thơ khác:
Lời hô/ca bài chòi hầu như sử dụng tất cả các thể thơ: thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ…thơ tự do nhiều chữ (như câu thơ văn xuôi).Sự hiệp vần của các thể thơ khá tự do chứ không nhất thiết phải hiệp vần như lục bát, lời hô/ca có sự nhất quán về”vần”khá lỏng lẻo (cưỡng vận)chỉ hướng đến sự hài hoà của nhạc điệu chứ không bó buộc cứng nhắc
-“-Chồng nằm chính giữa
Hai vợ nằm hai bên
Lấy chiếu đắp lên
Hô là ba bụng”
(Ba Bụng-Bánh Ba)
Như vậy, câu hô/ca bài chòi từ lục bát đến lục bát biến thể rồi thâu thái cả song thất lục bát, thơ ba câu, bốn câu, năm câu…đến lối nói thơ tự do dài hơi đúng với quá trình văn học hoá “bắt đầu từ một nhu cầu giải trí, nảy sinh một nhu cầu thẩm mỹ là bước khai sinh của hô bài chòi”(10)
-Về kết cấu:
Lời hô/ca của bài chòi thường có kết cấu độc thoại/đơn diễn-một vế hô/hát tức một vai kể/diễn của một người trong vai anh Hiệu hoặc chị Hiệu:
-”Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi
Trời làm đôi lứa đôi nơi
Chàng than thở phận, thiếp bồi hồi duyên”
(Bánh Hai)
-”Ước chi em chưa có chồng
Anh về thưa với cha mẹ mang rượu nồng đón em
Xui cho đôi lứa thuận tình
Dẫu có ăn hột muối nằm đình cũng ưng”
(Sáu Hột)
Lời ca thường được sáng tác trên một khuôn mẫu nhất định-điều này chúng tôi sẽ đề cập đến khi bàn về chuyện “ứng tác” tại chỗ của người hô-, khuôn mẫu đó là những mô típ (motif) trong các sáng tác thơ ca dân gian, ca từ các làn điệu dân gian-nhất là trong văn chương-nghệ thuật truyền khẩu như mô típ “bạn ơi”…; “bạn về”…;”ngó lên…ngó xuống”; “chầu rày….một mai”; “ra đi…về lại”; “còn duyên…hết duyên”, “ngồi buồn…”; “chiều chiều…”; “đêm nằm…”…
Đồng thời với lời ca một vai/một vế là lời ca hai vế theo dạng “hỏi-đáp”, “đố -giải”, “kẻ thắc mắc-người giải trình, phân bua” thường ứng dụng khi có hai người hô/hát-trong vtrường hợp sử dụng làn điệu hò khoan thì nhiều người có thể hò xô “khoan hố hợi hò khoan” theo người hò xướng:
“Con chi mỏ đỏ lông vàng
Đậu trên cành khế hỏi nàng giống chi?
Giống chi em còn hỏi giống chi
Đậu trên cây khế tức thì giống chim
Chẳng tin em hãy nhìn xem
Nó là chim đỏ mỏ lại thêm lông vàng”
(Đỏ Mỏ)
-Về phương thức giải mã quân bài:
Lời ca bài chòi thường được ứng tác, sử dụng nguồn bài bản được trao truyền từ trước mà những câu hô/ hát ấy luôn có xu hướng “câu đố hoá” buộc người nghe xét đoán, suy đoán con bài sắp ra là con bài gì?.Có nhiều phương thức giải mã quân bài như:
+Phương thức đồng âm-đồng nghĩa
Đây là phương thức hết sức đơn giản-nghĩa là cứ hô/hát về sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó có nhắc đến tên quân bài-lập tức người nghe biết được tên quân bài:
-”Mất con gà em la cả xóm
Ba bốn ngày họ đoán không ra…”
(Ba Gà)
Hay:
_”Qua sông thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”
(Cửu Chùa)
Phương thức này thường có “đáp án” sớm, ví vậy thiếu đi sự “ức chế thời gian” để người chơi suy đoán, khiến việc hô/ hát thiếu hấp dẫn.Nếu anh.chị Hiệu cứ lạm dụng phương thức này, trò chơi/trò diễn sẽ kém vui…
+Phương thức đồng âm dị nghĩa:
Phương thức này luôn tạo sự gợi mở, liên tưởng của người nghe về nghĩa (và trường nghĩa) của quân bài tương đối xa hơn, lại gợi nhiều điều để so sánh, đối chiếu các ý nghĩa để suy đoán về tên quâ bài:
-”Thời nay võ nghệ huyên thuyên
Không ai gióng được đường quyền ngày xưa”
(Gióng)
Trong trường hợp trên-thì gióng đây là “gióng đường quyền” liên quan đến võ thuật-gióng đường quyền đồng âm với gióng để gánh.
-”Em chỉ chỗ mô mà mưa ba năm không ướt, nắng chín tháng không khô
Em chỉ chỗ mô có huê, có hoa cho anh trỉa hột, anh trỉa vô là mọc liền”
(Bạch Huê)
+Phương thức miêu tả đặc điểm, tính chất của nhân vật/sự vật/sự việc…
Phương thức này gần giống với phương thức tạo lập câu đố dân gian khi miêu tả đặc điểm, tính cách, tính chất của sự vật, hiện tượng để gợi sự liên tưởng, sự hình dung đến “đối tượng” yêu cầu phải giải mã của câu đố”
-”Mình rồng mặc áo mã tiên
Ngày ba bốn vợ tối nằm riêng một mình”
(Ba Gà)
Hay:
-”Con quan gọi là công tử
Con một, con ngoan, con giỏi được gọi là quý tử
Vậy ta thử hỏi nàng
Con vua tước hiệu rõ ràng là chi?
(Thái Tử)
4.2-Về cách ứng tác lời hô/hát bài chòi
Lời ca bài chòi luôn hấp dẫn ở tài nghệ của anh/chị Hiệu trong viếc ứng tác tại chỗ, lấy bối cảnh giao đãi tại chỗ hay ngữ cảnh tương tác giữa người cầm chịch cuộc chơi bài và người chơi ngay tại nơi diến trò
Trước hết diễn trình “văn học hoá” của anh Hiệu luôn diễn ra trên cơ sở anh đã thu nạp khá đầy đặn kho ngữ liệu truyền khẩu về các quân bài-tức bài hô các quân bài-đã từng được nghe, đã từng hô trong quá khứ trước đó.Như chúng tôi từng đề cập đến việc sử dụng các mô-típ trong các tác phẩm thơ ca dân gian cùng với kho ngữ liệu văn học dân gian địa phương, qua đó anh/ chị Hiệu vận dụng các “bài bản” đã thuộc, thêm thắt những tình tiết mới phù hợp với tình huống giao đãi, nhu cầu thể hiện đề tài thiết thực của cuộc sống mới như khen chuyện “người tốt việc tốt”, phê phán cười giễu cái xấu, cái lạc hậu, cái xấu, cái ác…Chẳng hạn đây là màn hát đôi của anh/chị Hiệu phê phán chuyện say sưa:
Nam:
“Này em ơi -em đừng có trách tôi say
Ngày xuân ngày tết, chúc tụng nhau phải có tí cay tí nồng
Mặc cho ai đo ai thổi nồng độ cồn
Chứ-hiu hiu gió thổi đầu non
Mấy thằng uống rượu là con Ngọc Hoàng
Nam vô tửu như kỳ vô phong
Chứ đàn ông mà không bia, không bọt đúng là cái hàng bỏ đi…”
Nữ:
“Anh ơi sách có câu làm trai cho đáng nên trai
Xuống đông ,đông tỉnh lên đoài, đoài yên
Mấy ai khen anh cờ bạc, anh rượu chè
Say vô anh cứ lè nhè bê tha
Đêm tới ngày anh vất vưởng như con ma
Anh sống mà như chết thì chẳng thà…chẳng thà…”
Nam:
“-Thà làm răng…?
Nữ:
-”Thì chẳng thà tôi đem…quăng!”
(Tam Quăn)
Khi hô hát đơn, tài nghệ của người hô là dựa trên việc ghi nhớ các bài bản đã hô về một quân bài-thường một quân bài có hai đến ba bài hô-nên việc chọn lựa của anh/ chị Hiệu rành nghề là không khó mấy.Người hô ngoài việc ghi nhớ tốt những bài bản đã sẵn thì ctài năng là việc cập nhật những vấn đề “thời sự” của địa phương như chuyện làm ăn, chuyện vui buồn của cộng đồng làng xóm, chuyện ăn, ở ứng xử giữa người với người, ngợi ca người tố việc tốt, phê phán thới hư tật xấu…
“Ra đường sợ chuyện giao thông
Say vô cầm lái như rồng thăng thiên
Say vô vận tốc thằng điên
Say vô phủỉ cẳng leo lên bàn thờ
Say vô sớm đoàn tụ với ông bà
Ngồi trên nóc tủ ngắm gà, ngắm gà khoả thân”
(Ba Gà)
Trường hợp hô hát đôi,thường giữa anh và chị Hiệu chắc chắn đã chuẩn bị bài bản từ trước, nếu việc hô/hát đối đáp diễn ra ngẫu hứng, ngẫu nhiên thì thực họ là những nghệ sĩ đích thực, vừa sáng tác/ứng tác vừa biểu diễn trong trò chơi/trò diễn bài chòi
Về âm nhạc bài chòi
-Về việc hô hay ca?
Cái tên hô bài chòi-các nhà nghiên cứu cho rằng “lâu nay, “hô bài chòi thường bị hiểu lầm “là bắt nguồn từ tên “con bài” trong bộ bài trùng với việc” hô”tên con bài trong trò chơi bài chòi.Trong trò chơi bài chòi thì việc “hô” không hoàn toàn chỉ là việc tuyên bố tên con bài, mà là một thể loại trong diễn xướng dân gian xưa gồm: hò,hố,hô, lí…”Hô” là thể gốc trong ca nhạc phù thuỷ, có lẽ do bắt nguồn từ việc “hô phong hoán vũ” (kêu mây gọi gió).Rồi từ đó hình thành thể loại hô bài trong dân ca Miền Nam Trung Bộ. “Hô Bài” không phải là “hô tên con bài” như hiểu nhầm sau này, mà là hô một bài vè.Giọng điệu hô trong âm nhạc phù thuỷ và giọng điệu hô bài nguyên sơ mang sắc thái tấu nhiều hơn là ca hát.Cũng xin nói thêm rằng-trong diễn xướng dân gian, các thể “hò, hố,hô được áp dụng cho những điệu diễn xướng tự do, chưa có kết cấu khúc thức và các thể hát, lý, ca được áp dụng cho các ca khúc dân gian” (11)
Mở đầu cho việc hô/hát là phần “ nói lối”.Nói lối là nói có vần, có lối những bài thơ dân gian.Nói lối trong diễn xướng bài chòi là: “hát một nét giọng nào đó và hát một cách tự do không nhịp điệu, không tiết tấu.Tuy nhiên, không phải tự do thế nào cũng được mà cách ngân các âm dài ngắn, to nhỏ, trầm bổng phải tuỳ thoe sự diễn đạt tình cảm của nội dung” (12).Mở đầu bài chòi không phải lúc nào cũng nói lối mà có nhiều cách khác nhau như:
-Nói lối xuống hò vào hát
-Nói lối không xuống hò vào hát
-Không nói lối vào hát ngay
-Nói thường-không nói lối vào hát
Trong đó cách nói lối xuống hò vào hát thường có trong bài chòi đơn diễn(một anh Hiệu), các cách còn lại thường có trong song diễn (anh và chị Hiệu) và trong sân khấu ca kịch bài chòi. “Xuống hò” được hiểu là phần tiếp của nói lối xuống hò đóng vai trò để lấy hơi, để ổn định điệu thức hoặc để “kết đoạn” sau một đoạn hát.Mục đích xuống hò trong bài chòi là:dừng ở âm chủ điệu sau đoạn nói lối; dừng ở âm chủ điệu ở đoạn kết sau một đoạn hát; dừng kết đoạn và cũng để anh Hiệu nghỉ lấy hơi; thể hiện tình cảm một cách sâu sắc, đậm đà hơn.Hát bài chòi từ một lối chơi bài dần dần trở thành một phương thức diễn xướng dân ca
-Về làn điệu bài chòi
Trong quá trình diễn xướng lâu dài, âm nhạc bài chòi đã có bước tiến quan trọng là thâu thái, tiếp biến các làn điệu của dân ca, nhạc lễ dân gian để các làn điệu ấy thành các làn điệu đặc trưng của ca hát bài chòi.Từ chỗ “vốn chỉ với một điệu thức sơ khai, chỉ hô theo nhịp trống, không có nhạc đệm, đã phân hoá thành 4 điệu thức cơ bản: cổ bản, xàng xê, xuân nữ, Hồ quảng, dựa vào các điệu mang tên ấy của nhạc lễ dân gian.Về sân khấu, từ một diễn viên có thể kiêm nhiều vai,ăn mặc giản đơn, tiến đến phân vai và trang phục theo nhân vật” (13).Cũng theo nhạc sĩ Hoàng Lê, âm nhạc bài chòi cho đến ngày nay có nhiều làn điệu-làn điệu được hiểu là yếu tố cơ bản trong cấu trúc chỉnh thể dân ca có tính ổn định , bền vững, đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, chi phối, điều tiết lời thơ và diễn xướng-bìa hòi có 6 làn điệu chính và 5 biến điệu phụ: “Sáu làn điệu chính là: xuân nữ cổ, điệu xuân nữ mới, điệu xàng xê luỵ, điệu xàng xê dựng, điệu cổ bản và điệu Hồ quảng.Năm biến điệu phụ gồm: xuân nữ cổ, xuân nữ chuyển pha, xuân nữ chuyển mi, cổ bản chậm và cổ bản xóc” (14)
Nhạc sĩ Trần Hồng thì cho rằng-Bài chòi có 6 làn điệu” “xuân nữ cũ, xuân nữ mới, cổ bản, hò quảng, xàng xê cũ (luỵ), xàng xê mới (dựng), khi hát xàng xê luỵ là bậc rề, chuyển hát xàng xê dựng, nhạc lên một tone là mi, xàng xê dựng có tính giận dữ, mạnh mẽ. Giai điệu của các làn điệu bài chòi là những câu nhạc hoàn chỉnh, có tiết tấu, giai điệu, âm thanh sắp xếp, trật tự riêng biệt, không có nghệ thuật dân gian nào ở Việt Nam có được”” (15)
Nhạc sĩ Trương Đình Quang cho rằng, tính chất của các làn điệu có ít nhiều khác nhau “Bài chòi xuân nữ-tha thiết trữ tình, thích hợp với lối tự sự, giãi bày tâm trạng, lối đan ghép chất liệu đem lại giọng điệu mới, tạo nên sự điều hoà tính chất u buồn, mềm mại bên cạnh tính chất rắn rỏi ,tươi mát.Bài chòi Nam xuân trong sáng, khoẻ khoắn với cách pha trộn tiết tấu, kết hợp ngữ khí có thể diễn tả tính chất đểu giả, kệch cỡm.Bài chòi xàng xê thì buồn bã, bi thảm, khi dựng lên thì mang tính chất khẳng khái, đấu tranh.Bài chòi Hồ quảng thì tươi tắn phẫn khởi” (16)
Diễn xướng nghệ thuật bài chòi ở Quảng Nam-Đà Nẵng về mặt âm nhạc luôn là một hệ thống mở.Ngày nay bài chòi ngoài việc ngoài các làn điệu đăc trưng cơ bản còn thâu nhận, sử dụng các điệu hò, điệu lý, điệu vè…trong kho tàng dân ca xứ Quảng, các sáng tác làn điệu mới của sân khấu ca kịch bài chòi (làn điệu Đất Hồ lòng Hán, Áo tân khoa; Lía mo xảo; Ghẹo vàng anh;Lía phấu; Vọng Kim lang…-của Hoàng Lê; Đoạn trường; Vượt tường hoa; Trách hoa; Dạ đơn hành…của Cung Nghinh; Tình duyên cung oán của Văn Cận…) kể cả các ca khúc mới có chất liệu dân gian, nhất là dân gian xứ Quảng
Làn điệu bài chòi luôn ca ngợi chân-thiện -mỹ, phê phán cái ác, cái xấu, cái lạc hậu-nội dung lời hát luôn tìm kiếm “sự thật biết cười” (U.Berto Eco)với diễn trình “văn học hoá” bài chòi đã “biến một cuộc đỏ đen thành một thú chơi văn chương tao nhã” (TrầnThuỳ Mai) (17)…
Nguồn dẫn:
Ngô Đức Thịnh, Prank Prochan (chủ biên-2005)-Thuật ngữ Folklore-Viện nghiên cứu văn hoá-NXB KHXH,Hà Nội 2005 tr.71
Nguyễn Lê Uyên-Tiến trình phát triển của bài chòi-văn chương Việt-vanchuongviet.org/index.php?.comp=tacpham&action=detal&id=8151
Trương Đình Quang (1990)-Lịch sử kịch hát bài chòi-bản đánh máy 57 trang -tư liệu riêng của tác giả (đã mất) chưa xuất bản tr.3-1990
Trương Đình Quang (1990) Lịch sử kịch hát…Tư liệu đã dẫn,tr.4
Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012)-Bài Chòi xứ Quảng-NXB Lao Động, Hà Nội 2012 tr.39
Nguyễn Thị Ly Kha (2007)-Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản-NXB Giáo Dục,Hà Nội 2007 tr.43
Chu Xuân Diên (2000)-Văn học dân gian Việt Nam-NXB Giáo dục, Hà Nội 2000-dẫn theo Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang-Bài chòi xứ Quảng-NXB Lao Động H..2012 tr.55
(8) Đại học Huế (1997)-Giáo trình thi pháp học-NXB Đại học Huế, Huế 1997 tr.55
(9) Hoàng Lê (2001)-Lịch sử âm nhạc và ca kịch bài chòi-Sơ VH-TT Bình Định xb.Quy Nhơn 2001
(10)Phan Ngạn (1993)-Tìm lại nguồn gốc của sân khấu bài chòi-Ca kịch bài chòi, những vấn đề nghệ thuật,Viện sân khấu xb, Hà Nội 1993 tr.96
(11)Mịch Quang-(1993)-Bài chòi hô hay ca?-Ca kịch bài chòi-những vấn đề nghệ thuật-Bộ VH-TT, Viện sân khấu xb,H.1993 tr.25, 26
(12)Đinh Thị Hựu-Trương Đình Quang (2012) -Bài chòi xứ Quảng-NXB Lao Động,h.2012 tr. 39
(13)-Mịch Quang (1993)-Sách đã dẫn…tr.26
(14)Hoàng Lê-Dẫn theo Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012) sách đã dẫn…tr.38.
(15)Trần Hồng (2021)-Đặc trưng nghệ thuật bài chòi Quảng Nam-Đà Nẵng-Đà Nẵng 25 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian-NXB Đà Nẵng 2021 tr.421
(16)Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012) sách đã dẫn…tr38
(17)Trần Thuỳ Mai ((2003)-Dân ca Thừa Thiên-Huế-NXB Thuận Hoá, Huế 1993 tr.196