SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BÀI CHÒI XỨ QUẢNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HOÁ

Địa chỉ sưu tầm: TS. Trần Đình Hằng - Phân Viện Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BÀI CHÒI XỨ QUẢNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HOÁ

 

TS. Trần Đình Hằng

Phân Viện Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung

 

1. Tính dân gian và khả năng thích ứng của một di sản văn hoá

 Bài chòi là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo, một hình thức nghệ thuật trình diễn dân gian tổng hợp đặc sắc của người Việt ở miền Trung, kết hợp giữa âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học, đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (ngày 07/12/2017, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc).

Bài chòi gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người dân lao động, mang đậm yếu tố nội sinh trong môi trường lao động nông thôn Nam Trung Bộ, từ một trò chơi giải trí (đánh bài) giữa những người nông dân canh chòi về sau được nghệ thuật hóa. Người chơi đã nghệ thuật hóa việc hò hát đối đáp và tâm tình thành các câu thai (câu đố) theo lối thơ ca lục bát và từ đó, Bài Chòi dần trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu vào các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán.

Giá trị của Bài Chòi thể hiện qua tính đa dạng trong thống nhất về sắc thái địa phương, phản ánh đời sống tinh thần và vật chất của cư dân Nam Trung Bộ, gắn liền hệ giá trị lao động và sinh kế bởi nó thoát thai từ sinh hoạt tinh thần và cố kết cộng đồng của người nông dân sau thời gian lao động đồng áng mệt nhọc. Về phương diện nghệ thuật, bài Chòi sử dụng 4 làn điệu cơ bản (Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hò Quảng), với làn điệu có chất nhạc và lời ca tươi khỏe, trong sáng, đậm nét trữ tình. Trên phương diện xã hội, bài Chòi cũng tái hiện tinh thần dân chủ làng xã và trật tự xã hội truyền thống bao gồm cả hệ giá trị pháp lý lẫn luân lý (mô hình chín chòi và trung tâm điều khiển và là không gian để cộng đồng thể hiện nguyện vọng, khát vọng tự tình đôi lứa). Hơn nữa, nét đặc sắc cần chú ý là nội dung của nó phản ánh thực trang xã hội sâu sắc, như đả kích lễ giáo phong kiến hủ lậu cực đoan, những thói hư tật xấu và đề cao giá trị nhân bản (tình chung thủy, lòng hiếu thảo, trung nghĩa)…

Điểm đáng chú ý là ở bài Chòi, nổi bật tính dân gian và khả năng biến đổi thích ứng, cơ biến. Tính dân gian của Bài Chòi thể hiện rõ nét qua khả năng ứng tác linh hoạt của nghệ nhân và sự thích ứng trong bối cảnh đương đại. Trong diên xướng và ứng tác, vai trò trung tâm thuộc về Anh/Chị Hiệu (người quản trò), người có tài thuộc lòng hàng trăm câu thơ, dân ca, hò vè, và có biệt tài ứng khẩu linh hoạt trong những tình huống cụ thể đầy ngẫu hứng. Bài Chòi có hình thái đa dạng như hô Bài Chòi (Trò chơi, hình thức chơi tập thể, vui xuân, đậm chất dân gian), Bài Chòi Lớp/Chiếu (Kịch hát, phát triển từ Hô Câu Thai thành các trích đoạn truyện thơ, rồi kịch hát với nhiều nhân vật như đào, kép, trên sân khấu quy ước là chiếu, đất.

Nghệ thuật Bài Chòi được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, là niềm tự hào của người dân miền Trung, đặc biệt là với xứ Quảng nhưng đứng trước xu hướng hiện đại hóa mạnh mẽ thì Bài Chòi tất yếu cũng bị tác động ảnh hưởng và phải trải qua những biến đổi sâu sắc. Thực tế đó vừa là cơ hội để tồn tại và đồng thời cũng vừa là thách thức lớn trong việc giữ gìn bản sắc truyền thống với những biểu hiện có thể nói là “nguyên gốc” nhất trong điều kiện và hoàn cảnh có thể.

Từ đó, dẫn đến vấn đề thích ứng đương đại bởi trong bối cảnh hiện nay, Bài Chòi đã có sự biến đổi để thích nghi, chuyển từ không gian thôn làng lên không gian đô thị (quảng trường, phố đi bộ) như một loại hình nghệ thuật đường phố. Bài chòi được lồng ghép trong các hoạt động du lịch và tuyên truyền pháp luật/chính sách, như mô hình ở Đà Nẵng và Khánh Hòa, để tiếp tục sống và lan toả hiệu ứng tích cực trong đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, sự biến đổi này cũng đặt ra thách thức về nguy cơ mai một làn điệu cổ, bị pha tạp và khủng hoảng khán giả/nghệ nhân truyền thừa, đòi hỏi ngành văn hoá và các tỉnh thành phải có giải pháp đồng bộ để bảo tồn giá trị cốt lõi của di sản Bài Chòi một cách hữu hiệu, phù hợp với thực tiễn địa phương. Với Đà Nẵng hiện nay, điều đó càng mang nhiều ý nghĩa cấp thiết, cả về khoa học lẫn thời sự, bởi đây là một siêu đô thị trải dài trên một địa bàn rộng lớn từ sự sáp nhập Đà Nẵng và Quảng Nam , làm cho nó gần trở lại như tiểu vùng xứ Quảng trước đây.

2. Sự biến đổi của nghệ thuật Bài Chòi Xứ Quảng trước xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Hiện nay, sự biến đổi của Bài Chòi diễn ra đồng thời theo hai chiều hướng song song là bảo tồn tính nguyên gốc và thích nghi, đổi mới để tồn tại và phát triển một cách hài hoà, phù hợp.

2.1. Biến đổi về hình thức diễn xướng

Từ một trò chơi dân gian đến một hình thức sân khấu. Xét trên các khía cạnh mục đích, không gian biểu diễn, thời lượng, người hô hát, chúng ta có thể thấy bài Chòi truyền thống là một trò chơi dân gian (hát kết hợp chơi bài) trong các dịp lễ hội, Tết; tất cả được diễn ra trên 9 chòi tre được dựng giữa sân đình hay một không gian hữu cơ của một thiết chế văn hoá truyền thống, có một chòi cái (chòi trung tâm) và 8 chòi con; với thời lượng kéo dài cả ngày hoặc nhiều ngày, tùy thuộc vào số lần hô bài; người hô Bài/Diễn viên chủ yếu là Anh/Chị Hiệu (người hô bài), vừa là người điều khiển trò chơi, vừa là nghệ sĩ. Còn với bài Chòi hiện đại hóa (sân khấu hóa) thì tương ứng các yếu tố trên, lại là một nghệ thuật sân khấu độc lập, để biểu diễn thường xuyên nhằm phục vụ công chúng và khách du lịch; nó được diễn ra trên sân khấu cố định hoặc lưu động, đôi khi vẫn giữ mô hình chòi nhưng đơn giản hóa hoặc không còn chòi, thậm chí là chòi rạp kim loại phổ biến trong các loại hình làm dịch vụ hiện đại; các tiết mục được rút gọn, thường trong chừng 45-60 phút, thành các vở diễn hoặc trích đoạn ngắn và đặc biệt, ở đây đã có sự phân công rõ ràng hơn với các diễn viên sân khấu và nhạc công chuyên nghiệp.

Đặc biệt đáng chú ý, vấn đề sân khấu hóa là sự biến đổi lớn nhất, từ đó giúp Bài Chòi thoát khỏi giới hạn không gian và thời gian lễ hội truyền thống vào những thời điểm, những dịp hiếm hoi trong năm để trở thành một sản phẩm văn hóa có thể biểu diễn thương mại, mang lại thu nhập, nhưng đồng thời cũng làm giảm đi tính ngẫu hứng, dân dã và sự tương tác trực tiếp với khán giả như một trò chơi mà Bài Chòi truyền thống thường luôn được thể hiện rõ.

2.2. Biến đổi về nội dung và âm nhạc

Trước hết là về nội dung kịch bản. Nếu như trước đây tham chiếu những tác phẩm được coi là nguyên gốc thì phần hô/hát Bài Chòi chủ yếu là các câu thơ lục bát, song thất lục bát ngẫu hứng, ca ngợi cảnh vật, tình yêu đôi lứa và cả châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội... thì đối với những tác phẩm hiện đại hoá, đã có sự dịch chuyển dần sang dàn dựng các vở diễn có cốt truyện hoàn chỉnh, với đầy đủ các bước mở đầu, cao trào và kết thúc. Không những thế, trong nội dung còn mở rộng sang các đề tài lịch sử, cách mạng, hoặc những vấn đề thời sự mà xã hội hiện đại quan tâm.

Trong âm nhạc, hô hát Bài Chòi truyền thống thường sử dụng các làn điệu dân ca Khu V (Miền Trung) với nhạc cụ dân gian mộc mạc như đàn nhị, sáo, trống, sanh tiền thì với cách tiếp cận hiện đại, người ta lại có xu hướng phối khí phức tạp hơn, bổ sung thêm một số nhạc cụ hiện đại hoặc dàn nhạc lớn hơn để tăng thêm tính hấp dẫn mà vẫn cố gắng giữ lại hệ thống làn điệu gốc, như Xuân Nữ, Xàng Xê, Hồ Quảng.

Qua đó có thể thấy việc mở rộng nội dung đã giúp Bài Chòi tiếp nhận và chuyển tải tính thời sự cấp thiết và đa dạng hơn. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là nếu quá lạm dụng phối khí hiện đại thì có thể làm biến dạng các làn điệu gốc, làm mất đi sự mộc mạc, gần gũi vốn có của món nghệ thuật dân gian đặc trưng ở nông thôn Nam Trung bộ này.

2.3. Biến đổi về tính chất văn hóa và xã hội

Điểm dễ nhận ra trước tiên là tính cộng đồng bởi trước đây, Bài Chòi vốn là hoạt động mang tính sinh hoạt chung của toàn bộ cộng đồng cư dân làng xã nhưng hiện nay, theo hướng hiện đại hoá thì nó đã được chuyển thành hoạt động của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, làm giảm sự tham gia tương tác trực tiếp của người dân.

Thứ hai là tính bảo tồn, từ một di sản văn hoá, nghệ thuật diễn xướng dân gian, Bài Chòi đã được di sản hoá với một hồ sơ quy mô, trên một địa bàn rộng khắp để nâng tầm thế giới khi được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ đó, thu hút ngày càng mạnh mẽ sự quan tâm của bạn bè quốc tế và nhất là khẳng định được vai trò, sứ mệnh của một di sản để nhận được sự quan tâm và đầu tư lớn từ nhà nước, ngành văn hoá và các địa phương ở miền Trung. Đồng thời, hiện thực đó đã đưa đến việc phục dựng có chọn lọc và chuẩn hóa các làn điệu, tránh bị mai một.

Sau cùng là tính kinh tế. Rõ ràng là trong bối cảnh hiện nay, Bài Chòi đã có sự dịch chuyển từ hoạt động thuần tuý vui chơi giải trí, hoạt động phi lợi nhuận (chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng thông qua nghi lễ cúng tế và sau đó là hội hè vui chơi) sang một sản phẩm du lịch có khả năng tạo ra công ăn việc làm, tạo thu nhập cho các nghệ nhân và đoàn hát cũng như các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cả một sân khấu đông đảo.

2.4. Một số khía cạnh liên quan khác

Trước hết là sự biến đổi về không gian và cấu trúc, bởi Bài Chòi truyền thống thường diễn ra chủ yếu trong các dịp lễ hội, Tết Nguyên Đán của cộng đồng làng xã trong không gian nông thôn. Không gian hữu cơ truyền thống đó gắn liền với 9 chòi tre được dựng trên sân đình, nơi khán giả tham gia trực tiếp vào trò chơi rút thẻ và hô bài, nổi bật với tính ngẫu hứng và tương tác cộng đồng một cách mạnh mẽ trở thành linh hồn và tinh thần cốt lõi. Trong khi đó đối với thể loại Bài Chòi hiện đại thì để phục vụ biểu diễn thường xuyên gắn liền với mục đích chính trị - xã hội cũng như phát triển du lịch, Bài Chòi đã được được sân khấu hóa. Các vở diễn được tổ chức trên sân khấu cố định hoặc lưu động, với thời lượng rút gọn, thông thường là dưới 60 phút cho phù hợp với nhu cầu thưởng thức của lớp khán giả mới hầu như lắng nghe và quan sát một chiều mà gần như thiếu sự tương tác gần gũi như Bài Chòi truyền thống. Mô hình 9 chòi có thể được giữ lại như một biểu tượng có tính chất trang trí nhưng chức năng trò chơi bị giảm thiểu để nhường chỗ cho tính chất biểu diễn nghệ thuật của một đơn vị chuyên nghiệp. Khoảng cách giữa người hô hát và người chơi do vậy trở thành rào cản vô hình rất khó xử lý, làm giảm tính chất và sức sống vốn có của Bài Chòi truyền thống.

Thứ hai là biến đổi về vai trò người hô bài. Vai trò của Anh/Chị Hiệu - người vừa hô bài, vừa hát đối đáp, vừa điều khiển trò chơi - nay đã được phân hóa một cách rõ rệt. Thay vì sự ngẫu hứng tức thời, diễn viên phải học thuộc kịch bản, lời ca, và biểu diễn theo cấu trúc sân khấu với thời lượng, phân đoạn cụ thể. Điều này giúp vở diễn có vẻ chặt chẽ, dễ dàn dựng nhưng đồng thời lại làm giảm đi tính chất dân dã gần gũi, sự ứng tác sinh động vốn là linh hồn cốt lõi xuyên suốt của Bài Chòi truyền thống xứ Quảng.

Thứ ba là biến đổi, đổi mới trong nội dung, làn điệu và khán giả, bởi để thích nghi với nhu cầu thị hiếu mới của lớp khán giả mới tuỳ tính chất và không gian cụ thể nên nội dung và âm nhạc của Bài Chòi cũng có sự thay đổi tương ứng. Đầu tiên là nội dung kịch bản mở rộng nếu so sánh với nguyên bản thì nội dung xoay quanh những lời thơ lục bát, song thất lục bát ca ngợi cảnh sắc, cuộc sống, và những mẩu chuyện châm biếm thường ngày… thì trong nhu cầu hiện đại hoá, các đoàn nghệ thuật đã phải mạnh dạn dàn dựng thành những vở diễn có cốt truyện hoàn chỉnh với các đề tài rộng lớn hơn, liên quan chặt chẽ đến di sản lịch sử, truyền thuyết, hay các vấn đề xã hội đương đại. Việc này giúp Bài Chòi có tính thời sự và dễ dàng thu hút khán giả hơn nhưng đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu phải cân bằng hài hoà,hợp lý để không làm mất đi giọng điệu và hơi thở dân gian bền vững xuyên suốt của nó.

Liên quan trực tiếp tới vấn đề này, cũng cần chú ý đến những thay đổi trong phối khí và âm nhạc thích nghi, bởi các làn điệu Bài Chòi truyền thống như Xuân Nữ, Xàng Xê, Cổ Bản vẫn là nền tảng căn bản nhưng việc sử dụng nhạc cụ đã được cải tiến. Trong nhiều trường hợp, một số đoàn nghệ thuật năng động bổ sung vào các nhạc cụ hiện đại, hoặc tăng cường quy mô dàn nhạc để tạo âm thanh phong phú và đa dạng hơn. Mặc dù khát vọng muốn giúp tăng sự hấp dẫn nhưng vấn đề cần được kiểm soát chặt chẽ và nghiêm túc để bảo đảm giữ nguyên sự mộc mạc và chất dân ca Miền Trung trong di sản Bài Chòi.

3. Những thách thức và định hướng phát triển

Trước tác động của bối cảnh xã hội, nhất là những yếu tố từ bên ngoài ngày càng trực tiếp và mạnh mẽ thì xã hội truyền thống nói chung và di sản nghệ thuật diễn xướng dân gian như trường hợp Bài Chòi luôn biến đổi là điều tất yếu. Vấn đề đặt ra là trong hoàn cảnh bức bách đó, yếu tố nội lực và bản sắc từ phía chủ thể di sản, không gian sống của di sản từ phía cộng đồng địa phương cần được củng cố để thích ứng phù hợp, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực phù hợp để di sản vẫn tiếp tục sống dưới những lớp áo văn hoá mới nhưng vẫn giữ được hồn cốt căn tính của di sản. 

Trong thời đại kỹ thuật số, Bài Chòi đứng trước nhiều thách thức trong kỷ nguyên hiện đại bởi dù có nhiều nỗ lực đổi mới thì Bài Chòi xứ Quảng vẫn đối mặt với ba thách thức lớn cần được quan tâm xử lý. Đó là:

- Khủng hoảng kế thừa: Di sản Bài Chòi mà cụ thể là những nghệ nhân hô hát bài chòi không thu hút được lực lượng trẻ tham gia bởi thu nhập thấp cùng nhiều nguyên nhân thực tế khác, trong đó có sự lấn át bao trùm của sức hấp dẫn đến từ các loại hình giải trí hiện đại. Sự thiếu hụt các nghệ nhân có khả năng hô/hát ngẫu hứng chất lượng cao là mối đe dọa lớn nhất, trở thành vấn đề sống còn đối với tính nguyên gốc của di sản Bài Chòi.

- Nguy cơ lai tạp: Xã hội hiện đại với áp lực thương mại hóa và phục vụ du lịch ngày một phổ biến có thể dẫn đến việc làm mới quá đà, khiến cho Bài Chòi bị đồng hóa, lai tạp với các loại hình sân khấu khác, đánh mất đi sự duyên dáng đặc trưng riêng biệt của mình.

- Khoảng cách với khán giả trẻ: Ngôn ngữ và tiết tấu truyền thống của Bài Chòi khó tiếp cận với giới trẻ. Cần có các chương trình giáo dục nghệ thuật tại trường học và việc tận dụng các nền tảng số để thu hẹp khoảng cách này.

Cho nên, sự biến đổi của Bài Chòi xứ Quảng là một quá trình tất yếu để tồn tại trong dòng chảy văn hóa hiện đại. Việc sân khấu hóa và thương mại hóa đã giúp di sản này được bảo tồn và phát huy rộng rãi hơn, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch tại một số trường hợp tiêu biểu như Hội An và đô thị trung tâm thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, con đường phát triển bền vững phải nằm ở sự cân bằng khi đồng thời phải đổi mới về hình thức và nội dung để thu hút khán giả mới và vừa phải tôn trọng, bảo tồn kỹ thuật diễn xướng, làn điệu và tinh thần dân dã truyền thống nguyên gốc của một trò chơi dân gian miền quê nông thôn. Chỉ khi nào giữ được hồn cốt căn bản đó thì Bài Chòi xứ Quảng mới có thể tiếp tục vang vọng giữa lòng cuộc sống hiện đại mà không bị bức tử hay đồng hoá, biến dạng.

Thực tế đó đã mang lại nhiều nguy cơ và thách thức cần lưu ý, mà cụ thể và trực tiếp nhất là từ ba khía cạnh nổi bật:

3.1. Gìn giữ những hồn cốt, căn tính gốc của truyền thống 

Một khi mọi thứ thay đổi, nhất là cộng đồng người thưởng ngoạn thay đổi với tính chất xa lạ bởi chỉ muốn khám phá một di sản mới đáp ứng nhu cầu, thị hiệu trước mắt có tính tò mò, rồi sự lạm dụng các hình thái vật chất tác động trực tiếp vào di sản Bài Chòi… mà cộng đồng chủ thể không biết làm chủ tình hình, nâng niu những giá trị bền chặt của di sản mà tiền nhân đã trao truyền thì họ sẽ dễ bị cuốn vào sự tác động đó và tất yếu, Bài Chòi sẽ bị thay đổi nhanh chóng. Chính vì vậy, ở đây cần chú ý để tránh nguy cơ đó, bởi nó sẽ dẫn tới tình trạng cực đoan khi muốn làm mới quá đà di sản Bài Chòi, làm cho nó mất đi tính mộc mạc, tính độc đáo và biến dạng hay bị lẫn với các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian, trình diễn sân khấu khác. 

Chính nhiệt huyết và tri thức bản địa của cộng đồng, sự chung tay của các nhà nghiên cứu và nhà quản lý sẽ giúp định vị hệ giá trị căn cốt của di sản Bài Chòi, từ đó đảm bảo sự cân bằng giữa đổi mới và bảo tồn những giá trị cốt lõi. Đây là điều rất khó nhưng luôn mang tính khả thi cao bởi tính bền vững của những giá trị truyền thống trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam.

3.2. Lớp khán giả kế cận:

Từ sự tác động và biến đổi ngày càng mạnh mẽ của đời sống xã hội, nhất là trong xu hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ của các thành phần xã hội, của người dân luôn thay đổi tương ứng, đặc biệt là với lớp trẻ. Chính môi trường xã hội và cũng chính từ lớp trẻ, trước ngã ba đường của thời hiện đại với ngập tràn công nghệ và thông tin, họ cũng gặp phải và đặt ra quá nhiều nhu cầu và áp lực để học tập, rèn luyện và vươn lên nên chắc chắn, họ thiếu nhiều thời gian và tâm sức đối với di sản nghệ thuật truyền thống. Cái mới luôn hấp dẫn và lôi cuốn họ bởi họ có nhiều sự lựa chọn mà họ cho là hợp lý, hấp dẫn hơn đối với tâm lý lứa tuổi của lớp trẻ.

Chính vì vậy, các loại hình di sản nghệ thuật truyền thống nói chung và trường hợp Bài Chòi nói riêng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp, biết viết nên những câu chuyện gần gũi thân thương gắn liền với lịch sử và văn hoá quê hương, từ những địa danh, nhân danh, sản vật quê hương làng xã thôn xóm truyền thống để từng bước hấp dẫn, thu hút lớp trẻ. Ở đây, tuỳ từng bối cảnh và thực tiễn của địa phương mà có các giải pháp phù hợp nhưng điểm chung nhất là cần có giải pháp để đưa Bài Chòi vào trường học theo xu hướng gắn liền đồng thời đưa di sản văn hoá đến với học đường và đưa học đường đến với di sản văn hoá. Trong trường hợp này, việc kế thừa, sử dụng tối ưu các nền tảng số để tiếp cận nhóm khán giả trẻ tuổi cần được chú trọng đầu tư.

3.3. Vấn đề đào tạo nghệ nhân:

Không chỉ lớp trẻ mà các giai tầng xã hội trung niên hay cao niên cũng chịu tác động nghiệt ngã của đời sống xã hội hiện đại. Chính môi trường thôn dã mộc mạc, sự đam mê một hình thái nghệ thuật dân gian phù hợp với lối sống bình dị của người nông dân đã làm nên giá trị độc đáo của di sản Bài Chòi xứ Quảng. Điều đó đã gặp phải nhiều tác động, biến đổi mạnh mẽ từ bối cảnh xã hội nên nghệ nhân dân gian hiếm hoi dần, nhất là với các bậc cao niên. 

Từ đây, cần có chính sách đãi ngộ tốt, xây dựng môi trường hoạt động chuyên môn phù hợp để đào tạo, nuôi dưỡng, thu hút và giữ chân các nghệ nhân trẻ có tố chất, có khả năng hô/hát Bài Chòi một cách ngẫu hứng, bởi đây là một kỹ năng cốt lõi để làm nên sức sống của Bài Chòi.

Với những phân tích ở trên, có thể thấy sự biến đổi của Bài Chòi xứ Quảng là sự chuyển mình cần thiết có tính tất yếu, từ một trò chơi dân gian thuần tuý dần chuyển sang một hình thái nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp. Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc cần đồng thời tạo nên môi trường hữu cơ thuận lợi, khuyến khích Bài Chòi dân gian được nuôi dưỡng và có cơ hội thực hành từ chính đời sống sản xuất nông nghiệp và đời sống văn hoá tinh thần, lễ nghi tín ngưỡng của cộng đồng cư dân xứ Quảng. Từ hai cách tiếp cận bên trong và bên ngoài như vậy, hy vọng nó sẽ giúp Bài Chòi duy trì mạch sống từ nguồn cội, lan tỏa và tạo ra những giá trị mới trên phương diện bảo tồn và phát triển, nhất là giá trị phát huy tinh hoa nghệ thuật diễn xướng Bài Chòi và cả những giá trị kinh tế theo hướng chuyên nghiệp. Tuy nhiên, xuyên suốt ở đây vẫn cần một tinh thần và thái độ thận trọng, trọng thị từ nhiều phía, từ những bước đi cụ thể cho tới chiến lược dài hơi, để không làm mất đi hồn cốt của di sản Bài Chòi trong đời sống văn hoá dân gian xứ Quảng.

4. Tham chiếu một số trường hợp

Ở đây, chúng tôi cho rằng việc tham khảo các kết quả nghiên cứu về chủ đề tương tự ở nước ngoài là rất cần thiết, nhất là về sự biến đổi của di sản nghệ thuật diễn xướng trước xu hướng hiện đại hóa vốn là một chủ đề học thuật rất phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu biểu diễn, dân tộc học và bảo tồn di sản.

4.1. Một số khái niệm về khung lý thuyết chính

Trong lĩnh vực này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng những khung lý thuyết căn bản sau đây để phân tích sự biến đổi của nghệ thuật diễn xướng:

- Tính xác thực/Tính nguyên gốc (Authenticity): Đây là một khái niệm có tính trung tâm trong vấn đề bảo tồn di sản văn hoá. Thông thường thì các nhà nghiên cứu luôn tranh luận gay gắt về việc làm thế nào để duy trì "tính xác thực" của một loại hình nghệ thuật khi nó buộc phải thay đổi để tồn tại, mà chúng ta thường gọi nôm na là hiện đại hoá (modernization).

- Tính xác thực được giàn dựng (Staged Authenticity), hay là di sản văn hoá phi vật thể với vấn đề hiện đại hoá (Intangible Cultural Heritage vs. Modernity) sẽ rất hữu hiệu khi phân tích quá trình tiếp xúc, va đập gây nên sự căng thẳng giữa các giá trị truyền thống của di sản văn hoá phi vật thể và nhu cầu thích ứng với thị trường, công nghệ, và thị hiếu đương đại. Như khái niệm Tính xác thực được dàn dựng của Dean MacCannell tuy ban đầu gần như chỉ dành cho du lịch nhưng ngày càng lại thường được áp dụng để mô tả các buổi biểu diễn truyền thống phục vụ khách du lịch.

- Kho tiết mục và quá trình hình thành hệ chuẩn (kinh điển) [Repertory and Canon Formation] là cách cách mà người ta nghiên cứu phương thức các đoàn nghệ thuật quyết định giữ lại, hay loại bỏ, hoặc làm mới các vở diễn (cũng như làn điệu) truyền thống (repertory) sao cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khán thính giả hiện đại.

- Toàn cầu hoá và bản địa/địa phương hoá (Globalisation and Localisation) nhằm nhấn mạnh sự tiếp xúc, va chạm và giao lưu giữa văn hóa toàn cầu (như các hình thức âm nhạc và sân khấu phương Tây hiện đại, xa lạ) và nỗ lực bản địa hóa, hay thường được gọi là quá trình địa phương hóa của nghệ thuật truyền thống. Đối với những nước có địa - chính trị và lịch sử - văn hoá đặc thù như Việt Nam thì đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu về tiếp xúc, giao lưu văn hoá suốt chiều dài lịch sử và văn hoá dân tộc, nổi bật từ các trào lưu ảnh hưởng bởi phía Bắc, phía Nam, phía Tây và cả phía Đông với văn minh phương Tây.

4. 2. Tham khảo một số trường hợp nghiên cứu tiêu biểu 

Từ trước đến nay, có thể thấy có nhiều tài liệu nghiên cứu nước ngoài đã tập trung vào các loại hình nghệ thuật cụ thể đang đối diện với vấn đề hiện đại hóa ngày càng khốc liệt, như với các trường hợp:

- Kinh kịch ở Trung Quốc (Peking Opera) với nội dung biến đổi chính yếu là về về âm nhạc, trang phục, và dàn dựng sân khấu để thu hút khán giả trẻ; áp lực từ vấn đề thương mại hóa....

- Nhã nhạc Nhật Bản (Gagaku) cố gắng đưa nghệ thuật cung đình này ra khỏi cung điện, kết hợp với âm nhạc đương đại để tăng cường tính tiếp cận ra bên ngoài.

- Nghệ thuật Múa Kandy của Sri Lanka có sự chuyển đổi từ từ nghi lễ tôn giáo sang biểu diễn sân khấu, đối mặt với các vấn đề về tính xác thực của trang phục và động tác biểu diễn cũng như bao gồm cả câu chuyện thương mại hoá.

- Nghệ thuật Hát/Múa truyền thống Ấn Độ, như Kathakali, Bharatanatyam, trong đó nhấn mạnh sự thay đổi về phương pháp truyền dạy (từ gurukul sang học viện), và sự xuất hiện của nghệ sĩ nữ trong vai trò truyền thống của nam giới vốn đè nặng trong xã hội Ấn Độ từ xưa đến nay.

4.3. Một số kết quả nghiên cứu 

Có thể có nhiều các kết quả nghiên cứu (bài báo, sách chuyên khảo…) của nhiều tác giả trên thế giới có liên quan đến sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật diễn xướng, mà ở đây trong khuôn khổ và giới hạn của chuyên đề này, chúng tôi muốn tham khảo một số công trình có nhiều giá trị gần gũi, tương đồng để ứng dụng một cách thiết thực.

4.3.1. Nghiên cứu về tính linh hoạt và tính xác thực (Authenticity):

Các nghiên cứu này tập trung vào việc giải quyết làm thế nào để nghệ thuật truyền thống có thể thay đổi mà vẫn giữ được giá trị cốt lõi mà cộng đồng đã kiến tạo nên từ sự bền vững của truyền thống.

- Khi nghiên cứu về "Conceptualising the subjective authenticity of intangible cultural heritage" (Khái niệm hóa tính xác thực chủ quan của di sản văn hóa phi vật thể), Junjie Su từ năm 2018 đã nhấn mạnh rằng, đối với di sản văn hoá phi vật thể mà chúng ta có thể tham chiếu cho trường hợp Bài Chòi, thì tính xác thực (authenticity) không nên chỉ được đánh giá bằng các tiêu chí khách quan (objective/historical originality) mà thay vào đó là tính xác thực chủ quan, có nghĩa đó là cảm nhận và sự định nghĩa giá trị văn hóa của chính cộng đồng chủ nhà (họ là những nghệ nhân, người dân địa phương) mới là yếu tố quan trọng hơn. Vậy thì từ đây, có thể áp dụng cho trường hợp nghiên cứu di sản Bài Chòi, điều này ủng hộ quan điểm rằng sự thay đổi của Bài Chòi do cộng đồng người dân xứ Quảng thực hiện để thích nghi với cuộc sống hiện đại vẫn có thể được coi là "xác thực" (authentic) đối với họ, ngay cả khi nó không còn giống hệt như phiên bản lịch sử mà chúng ta thường câu nệ là nguyên bản truyền thống, có phần cực đoan khi cho rằng phải giữ y nguyên những cái từ cổ xưa. Thế ứng xử, thái độ ứng xử của cộng đồng cư dân chủ thể di sản cần đặc biệt được coi trọng, tránh tình trạng dẫn dắt và định hướng từ bên ngoài, một khi càng thiếu thực tế và bất hợp lý thì càng làm cho cộng đồng cư dân chủ thể, tính bản địa của họ bị đổ vỡ, mai một.

- Cũng với tác giả Junjie Su, từ năm 2021 đã tập trung giải quyết vấn đề “A Difficult Integration of Authenticity and Intangible Cultural Heritage? The Case of Yunnan, China" (Sự tích hợp khó khăn giữa Tính xác thực và Di sản văn hóa phi vật thể? Trường hợp Vân Nam, Trung Quốc). Nội dung cốt lõi ở đây là ông đi sâu phân tích sự căng thẳng giữa các tổ chức quốc tế (như UNESCO) và phương thức cộng đồng địa phương diễn giải tính xác thực của di sản. Bài viết này đã đề cập đến ý kiến cho rằng việc áp dụng thuật ngữ "authenticity" vào di sản văn hoá phi vật thể có thể "không phù hợp" vì di sản văn hoá phi vật thể về bản chất là "động" và được tái tạo liên tục.

4.3.2. Nghiên cứu về sự chuyển đổi và thích ứng trong nghệ thuật biểu diễn hiện đại

Trong khía cạnh này, các nghiên cứu đã phân tích phương thức mà nghệ thuật truyền thống pha trộn với các yếu tố hiện đại và trên phương diện toàn cầu hóa, đơn cử với một số kết quả nghiên cứu quan trọng.

- Khi nghiên cứu về "Transformations of tradition in modern performing arts practices" (Sự chuyển đổi của truyền thống trong các hoạt động nghệ thuật biểu diễn hiện đại), Duarte Pinto (2025) đã giải quyết nội dung cốt lõi khi lập luận rằng truyền thống không phải là một di sản tĩnh, mà là một quá trình năng động được định hình bởi nhiều thử nghiệm nghệ thuật, tiến bộ công nghệ và chuyển đổi xã hội một cách thiết thực qua thời gian. Bài viết nhấn mạnh cách các loại hình như sân khấu và âm nhạc tái cấu trúc kho tàng (inherited repertoires), hòa trộn với thẩm mỹ hiện đại và công nghệ số để duy trì sự liên quan đầy hữu hiệu.

- Ở đây, có thể tham khảo một trường hợp điển hình của Hàn Quốc của Jan Creutzenberg từ năm 2019 về "Between preservation and change: performing arts heritage development in South Korea" (Giữa bảo tồn và thay đổi: phát triển di sản nghệ thuật biểu diễn ở Hàn Quốc). Công trình này đã đi vào nghiên cứu so sánh các hình thức nghệ thuật Hàn Quốc và chỉ ra rằng những nghệ sĩ đã chuyên nghiệp hóa sớm và có thể thích ứng với bối cảnh mới của thị trường (market-oriented modernity) nên họ có cơ hội tồn tại và phát triển cao hơn hẳn những người còn lại. Điều đó đã có thể giúp chúng ta một sự gợi ý tích cực rằng việc Bài Chòi, hay Tuồng xứ Quảng khi chuyển sang sân khấu chuyên nghiệp và thương mại hóa cũng có thể là một cơ chế sinh tồn và phát triển cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

4.3.3. Nghiên cứu về hiện đại hóa sân khấu Châu Á và Toàn cầu hóa

Nội dung nghiên cứu của hai tác giả Yasushi Nagata, Ravi Chaturvedi từ năm 2019 về "Modernization of Asian Theatres: Process and Tradition" (Hiện đại hóa sân khấu Châu Á: Quá trình và Truyền thống) đề cập đến mối quan hệ căng thẳng đẫn tới cuộc xung đột ngày càng gia tăng giữa truyền thống và hiện đại trong lịch sử nghệ thuật sân khấu Châu Á. Cuốn sách này đi vào thảo luận về việc các nước Châu Á, trong quá trình bảo tồn hình thức và giá trị truyền thống tát yếu cũng phải đối mặt với các cơ chế và giá trị mới của phương Tây hiện đại. Điều này tạo môi trường và cơ chế đưa đến sự xuất hiện của các thể loại lai (hybrid genres), nơi các hình thức nghệ thuật diễn xướng địa phương được thích ứng một cách có thể nhất.

Khi nghiên cứu về vấn đề hiện đại hoá sân khấu Thái Lan, cũng có thể thấy rõ các nghệ sĩ đã cố gắng chuyển thể các tác phẩm truyền thống để đưa lên sân khấu hiện đại nhằm tìm kiếm một lối đi, bản sắc riêng cho sân khấu Thái Lan, thay vì chỉ mô phỏng kịch phương Tây. Từ bối cảnh cho đến những diễn biến cụ thể của quá trình chuyển dịch của sân khấu Thái Lan dưới áp lực của hiện đại hóa và toàn cầu hóa được đặt ra và phân tích kỹ càng. Một hướng đi hữu ích trong nghiên cứu của bà Rutnin là ở chương nghiên cứu về kịch (drama) và sân khấu (theatre) có thể coi như một tài liệu nền tảng quan trọng. Ở đó, bà phân tích phương thức mà các nghệ sĩ Thái Lan đấu tranh để tạo ra kịch bản và phong cách biểu diễn mới, phản ánh xã hội trong khi vẫn bám rễ vào các hình thức truyền thống. Riêng trong việc phác thảo nên Diện mạo thay đổi của sân khấu Thái Lan: từ Nhà Vua đến Nhân dân, tác giả Philip Dancer đã trực tiếp đề cập đến sự thay đổi về vai trò và nội dung của sân khấu Thái Lan, nhất là trong bối cảnh các sự kiện chính trị và xã hội luôn diễn ra ngày càng mạnh mẽ kể từ những năm 1970 trở đi bơi có thể coi đây là một giai đoạn mà các nghệ sĩ tìm cách phản ánh "thực tế xã hội đương đại" ở Thái Lan. Đặc biệt trong luận án tiến sĩ ở đại học Exeter (University of Exeter, United Kingdom) từ năm 2012 đã tập trung trực tiếp vào sự phát triển của sân khấu Thái Lan hiện đại hóa và đương đại theo hướng tiếp cận liên văn hóa đối với tính hỗn hợp sân khấu, từ đó làm nổi bật quá trình tìm kiếm và kiến tạo bản sắc Thái. Theo đó, xu hướng hiện đại hóa sân khấu Thái Lan nhằm tìm kiếm một hình thức hỗn hợp thông qua tiếp cận liên văn hóa với luận điểm chính là sân khấu đương đại dựa trên truyền thống. Đó là một dạng hỗn hợp, kết quả của sự dung hợp văn hóa và hòa trộn, kết hợp cả thẩm mỹ quốc gia Thái Lan và dạng thức liên văn hóa khi nổi bật sự kết hợp giữa các yếu tố hiện đại và truyền thống, nước ngoài và bản địa, thành thị và nông thôn… nhằm phát triển thành hình thức Likay đương đại (contemporary likay). Với chiến lược "Không sao chép", kể từ những năm 1900 thì mô-típ sân khấu phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến sân khấu Thái Lan nhưng các nghệ sĩ Thái Lan đã thể hiện sự đổi mới bằng cách điều chỉnh các quy ước nghệ thuật cho phù hợp với các mục tiêu mới và cá nhân. Họ thực hiện điều này mà không cần phải nhập khẩu toàn bộ phong cách phương Tây. Nhờ đó, sự kết hợp văn hóa này đã dẫn đến một loại hình sân khấu hậu hiện đại Thái Lan, khôi phục di sản văn hóa Thái Lan và thu hút khán giả, nhà phê bình, và học giả đương đại. Ở loại hình sân khấu liên văn hóa này, tương tự như liên văn hóa sân khấu châu Á, nó đạt được sự cân bằng giữa việc vay mượn kỹ thuật sân khấu phương Tây, như kỹ thuật viết kịch, dàn dựng, để mang lại ý nghĩa xã hội cho khán giả hiện đại cũng như cho việc bảo tồn các hình thức và thẩm mỹ châu Á để cung cấp cội rễ văn hóa và đảm bảo sự liên tục của truyền thống văn hoá với mục tiêu cao cả giúp các nhà thực hành sân khấu Thái Lan khôi phục lại các truyền thống đang dần mai một.

5. Kết luận

Qua phân tích một số kết quả nghiên cứu, có thể nhận thấy sự biến đổi là tất yếu và có ý nghĩa sống còn nên các hình thức nghệ thuật diễn xướng truyền thống cũng phải thay đổi tương ứng cho hài hoà, phù hợp, từ kịch bản, dàn dựng cho đến khán giả…, để tránh bị lỗi thời. Điểm nữa là vấn đề công nghệ chính là công cụ hữu ích và ở đó, nổi bật vấn đề công nghệ số đang được xem là một con đường để hồi sinh và bảo tồn (như quay video 3D, hướng dẫn trực tuyến…). Hơn nữa, cũng đã đến lúc chúng ta không nên đóng khung khái niệm truyền thống và di sản mà cần xác định nhất quán quan điểm động bởi khái niệm bảo tồn không chỉ là đóng băng di sản mà là hỗ trợ khả năng tái tạo và thích ứng của cộng đồng đối với di sản đó và cả của di sản đối với cộng đồng mở.

Một số tài liệu tham khảo từ bên ngoài sẽ giúp cung cấp một khung lý thuyết vững chắc để tham chiếu và phân tích sự chuyển mình của Bài Chòi nói riêng và di sản nghệ thuật diễn xướng truyền thống Việt Nam nói chung, đặc biệt là trong việc đánh giá sự cân bằng giữa nhu cầu thương mại hóa và vấn đề bảo tồn bản sắc cốt lõi. Quá trình biến đổi của nghệ thuật Bài Chòi xứ Quảng có tính tất yếu (tính cơ biến) và là minh chứng rõ ràng cho sự đấu tranh sinh tồn của một di sản văn hóa phi vật thể trước bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ. Sự biến đổi này không phải là sự sao chép thụ động, mà là một nỗ lực tái tạo bản sắc có ý thức, tương đồng với xu hướng Hỗn hợp sân khấu đang diễn ra tại nhiều quốc gia châu Á, điển hình là Sân khấu Likay ở Thái Lan.

Sự chuyển dịch của Bài Chòi diễn ra trên hai chiều hướng song song là bảo tồn tính nguyên gốc (gìn giữ hồn cốt truyền thống) và thích nghi, đổi mới để mở rộng không gian sống. Từ đó, cần xác định hướng phát triển bền vững là cân bằng giữa đổi mới và căn tính gốc. Thực tế nghiên cứu và tham chiếu quốc tế (như sân khấu Thái Lan và Kinh kịch Trung Quốc) cho thấy con đường phát triển bền vững không nằm ở sự câu nệ vào phiên bản lịch sử, mà ở sự cân bằng hợp lý giữa đổi mới hình thức/nội dung để thu hút khán giả mới, và tôn trọng, bảo tồn tinh thần dân dã căn cốt. Do vậy vấn đề đặt ra cấp thiết là cần tăng cường nội lực và tri thức bản địa nhằm chú trọng gìn giữ hồn cốt, căn tính gốc thông qua sự chung tay của cộng đồng chủ thể di sản, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Vấn đề đào tạo và đãi ngộ là chiến lược đầu tư mạnh, với chính sách đãi ngộ tốt để thu hút và giữ chân nghệ nhân trẻ, nhất là nuôi dưỡng kỹ năng ứng tác ngẫu hứng - kỹ năng cốt lõi làm nên sức sống của Bài Chòi. Từ đó, phải tiếp cận khán giả trẻ để đưa Bài Chòi vào trường học và tận dụng tối đa các nền tảng số để thu hẹp khoảng cách thế hệ.

Chỉ khi giữ được mạch sống từ nguồn cội và có thái độ thận trọng, trọng thị trong từng bước đi cụ thể cho tới chiến lược dài hơi, thì Bài Chòi Xứ Quảng mới có thể tiếp tục vang vọng và lan tỏa giá trị giữa lòng cuộc sống hiện đại.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Bùi Trọng Hiền. (2013). Khái quát về nghệ thuật bài chòi. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (344), 28-32.

  2. Creutzenberg, J. (2019). Between preservation and change: performing arts heritage development in South Korea. Asian Education and Development Studies, 8(4), 485-497.

  3. Cục Di sản văn hoá. (2017). Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. https://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-bai-choi-trung-bo-viet-nam-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1535

  4. Dancer, P. (2012). The Changing Face of Thai Theatre: From the King to the People. Silkworm Books (Chiang Mai, Thailand).

  5. Đinh Thị Hựu, & Trương Đình Quang. (2012). Bài chòi xứ Quảng. Nxb. Lao động.

  6. Đoàn Việt Hùng. (2014). Bài chòi. Nxb. Văn hoá Thông tin.

  7. Hoàng Chương, & Nguyễn Có. (2008). Bài chòi và dân ca Liên khu 5. Nxb. Văn hoá Thông tin.

  8. Hoàng Chương. (2017). Bảo tồn và phát huy giá trị của bài chòi. Nxb. Sân khấu.

  9. Junjie Su. (2018). Conceptualising the subjective authenticity of intangible cultural heritage. International Journal of Heritage Studies, 24(9), 919-937.

  10. Junjie Su. (2021). A Difficult Integration of Authenticity and Intangible Cultural Heritage? The Case of Yunnan, China. Chinaperspectives, (3), 29-39.

  11. Nagata, Y., & Chaturvedi, R. (2019). The Modernization of Asian Theatres: Process and Tradition. Singapore: Springer.

  12. Nguyễn An Pha. (2019). Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định. Nxb. Văn hóa - Văn nghệ.

  13. Nguyễn Phú. (2021). Nghệ thuật bài chòi dân gian: Khó khăn, thách thức trong thời kỳ hội nhập. Văn hoá nghệ thuật, (459).

  14. Nguyễn Thị Thanh Xuyên, Ngô Đức Chí, & Hoàng Thị Thu Hương. (2024). Tiến trình phát triển, phục dựng và phát huy nghệ thuật bài chòi tỉnh Khánh Hoà trong xã hội đương đại. Tạp chí Khoa học Xã hội miền Trung, (72), 112-126.

  15. Nguyễn Thị Thanh Xuyên. (2024). Hô bài chòi và tiến trình tái bối cảnh: tính hiện đại và hội nhập của hô bài chòi trong xã hội đương đại. Văn hoá học, (72), 32-46.

  16. Nhiều tác giả. (2023). Di sản Bài chòi xứ Quảng. Nxb. Đà Nẵng.

  17. Nhiều tác giả. (2024). Những câu thai Bài chòi xứ Quảng. Nxb. Đà Nẵng.

  18. Phùng Tấn Đông. (2009). Sức xuân của trò diễn bài chòi. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (295), 93-96.

  19. Pinto, D. (2025). Transformations of tradition in modern performing arts practices. European Review of Contemporary Arts and Humanities, 1(1), 8-11.

  20. Quỳnh Trang, Â. T. (2023). Bảo tồn, phát huy nghệ thuật bài chòi tại thành phố Đà Nẵng: thực trạng, thách thức và giải pháp. Đại học Đà Nẵng: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 21(8), 12-16.

  21. Rutnin, M. M. (1993). Modern Thai Literature: The Process of Modernization and the Power of the Past. Thammasat University Press (Thailand).

  22. Sompiboon, S. (2012). The Reinvention of Thai Traditional-Popular Theatre: Contemporary Likay Praxis (Luận án Tiến sĩ). University of Exeter (United Kingdom).

  23. Tôn Thất Hướng. (2007). Chơi bài chòi ở Quảng Nam. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (2), 31-33, 35.

  24. Urry, J. (2002). The Tourist Gaze. SAGE Publications Ltd (Published in association with Theory, Culture & Society).

  25. Viện Âm nhạc, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định. (2015). Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế). Nxb. Lao động.