VAI TRÒ CỦA BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG XỨ QUẢNG

Địa chỉ sưu tầm: Trần Văn An - Phó Chủ tịch Hội VNDG thành phố Đà Nẵng

VAI TRÒ CỦA BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG XỨ QUẢNG

 

Trần Văn An

Phó Chủ tịch Hội VNDG thành phố Đà Nẵng



 

Tóm tắt

Trò chơi Bài chòi hoặc nghệ thuật Bài chòi là một di sản văn hóa phi vật thể độc đáo, lâu đời của xứ Quảng nói riêng, khu vực miền Trung từ Quảng Bình cũ nay là Quảng Trị đến Bình Thuận cũ nay là Lâm Đồng. Ngày 7/12/2017, nghệ thuật Bài chòi đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

    Bài chòi lưu dấu bên trong bề dày lịch sử - văn hóa của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, là loại hình nghệ thuật đa dạng, tổng hợp nhiều thành tố văn hóa nghệ thuật và phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa địa phương. Với các vai trò to lớn về thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí cộng đồng, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa, giao tiếp và cố kết cộng đồng, thể hiện và bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, phổ biến và giao lưu văn hóa tạo cho Bài chòi có sức sống bền bỉ và hiện đang được phục hồi, bảo tồn, phát huy hiệu quả ở nhiều địa phương của xứ Quảng.

 

    Từ khóa: Nghệ thuật Bài chòi, xứ Quảng, bảo tồn, phát huy.

 

Đặt vấn đề

    Bài chòi hoặc nghệ thuật Bài chòi là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, lâu đời của xứ Quảng nói riêng, vùng Trung Bộ kéo dài từ Quảng Bình cũ nay là Quảng Trị đến Bình Thuận cũ nay là Lâm Đồng nói chung. Di sản này đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại phiên họp lần thứ 12 ngày 7/12/2017. Trong hồ sơ đề cử đã xác định: “Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là một loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học… nghệ thuật Bài chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong cộng đồng làng xã. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục trong nghệ thuật. Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sự hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu và phổ biến khắp miền Trung. Vì thế mà sinh hoạt Bài chòi trở thành môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật đồng thời cũng là nơi bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền.  Theo các định nghĩa này có thể xác định nghệ thuật Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian có sự kết hợp không thể tách rời giữa trò chơi và diễn xướng cùng một số thành tố văn hóa nghệ thuật khác. Và như vậy tên gọi nghệ thuật Bài chòi có nội dung trùng với tên gọi Bài chòi dân gian hay dùng. Đã có nhiều bài viết, chuyên đề nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc, chức năng, các thành tố văn hóa nghệ thuật liên quan đến Bài chòi. Trong chuyên đề này tôi muốn tiếp cận một số vấn đề về vai trò của Bài chòi trong đời sống văn hóa cộng đồng xứ Quảng.

    Xứ Quảng trước đây có phạm vi rộng kéo dài từ phía Nam đèo Hải Vân đến núi Đá Bia thuộc Phú Yên cũ, nay là Đaklak. Sau nhiều lần thay đổi địa giới đến giữa thế kỷ 19 thời Tự Đức thứ 5 (1852) thì Quảng Nam - Đà Nẵng có địa bàn tượng tự như thành phố Đà Nẵng hiện nay. Nói đến xứ Quảng hiện nay là chúng ta nói đến xứ Quảng ở địa bàn hẹp tương đương với vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng. Và như thế khi đặt vấn đề vai trò của Bài chòi trong đời sống văn hóa cộng đồng xứ Quảng là chúng ta tiếp cận xứ Quảng với phạm vi địa bàn Quảng Nam và Đà Nẵng ngày nay hoặc nói đúng hơn là thành phố Đà Nẵng mới hiện nay. Và trong không gian đấy, Bài Chòi xứ Quảng mang những đặc trưng riêng biệt so với Bài Chòi Bình Định hay Phú Yên. Sự khác biệt này nằm ở giọng điệu (thổ ngữ Quảng), làn điệu (sử dụng nhiều Hò khoan, Hát nhân ngãi hơn là chất Tuồng bi hùng của Bình Định) và phong cách diễn xướng (thiên về sự hóm hỉnh, ứng tác đời thường). Nếu Bài Chòi Bình Định chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Tuồng (Hát Bội) do đây là đất Tuồng, thì Bài Chòi xứ Quảng lại mang đậm chất trữ tình của các điệu hò sông nước (sông Thu Bồn, Vu Gia).

Để thực hiện chuyên đề nghiên cứu này, chúng ta cần tiếp cận dưới góc nhìn đa chiều:

Thứ nhất tiếp cận dưới góc độ Trò chơi học để phân tích cơ chế vận hành, tính ngẫu nhiên và yếu tố giải trí.

Thứ hai: tiếp cận dưới góc độ Dân tộc nhạc học: Phân tích các làn điệu, lời hô và vai trò của âm nhạc.

Thứ ba: tiếp cận dưới góc độ Xã hội học văn hóa: Phân tích chức năng cố kết cộng đồng và bảo tồn bản sắc.

Và dưới các góc độ đa chiều đó, vai trò của Bài chòi đã được thể hiện trong nhiều mặt của đời sống người dân xứ Quảng như:

  1. Vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí

Theo hồ sơ đệ trình UNESCO và các nghiên cứu chính thống, Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ là một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Nó là sự kết hợp biện chứng giữa các thành tố: Âm nhạc, Thơ ca, Diễn xuất, Hội họa và Văn học dân gian. Khác với các loại hình diễn xướng thính phòng, Bài Chòi sinh ra và tồn tại trong không gian làng xã. Thuật ngữ “Nghệ thuật Bài Chòi” và “Bài Chòi dân gian” thường được sử dụng thay thế cho nhau, phản ánh bản chất kép của di sản này:

Phần “Bài”: Yếu tố trò chơi thẻ bài, chịu ảnh hưởng từ trò chơi Tổ Tôm, Tam Cúc nhưng được bản địa hóa triệt để.

Phần “Chòi”: Không gian kiến trúc tạm thời nhưng mang tính biểu tượng, nơi diễn ra hoạt động.

Vì vậy, vai trò đầu tiên, dễ nhận biết nhất của Bài chòi trong đời sống cộng đồng của người dân là vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí. Tên gọi Bài chòi hoặc chơi Bài chòi cũng cho ta thấy được chức năng vui chơi giải trí này của Bài chòi. Tuy nhiên đây không phải là trò chơi thông thường, trò chơi thiên về ăn thua, bài bạc mà là một trò chơi mang tính nghệ thuật, là một loại trò chơi có sự kết hợp của nhiều thành tố văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, diễn xướng, văn học dân gian… Có thể ban đầu đây chỉ là trò chơi đơn thuần như bao trò chơi khác. Dần dà các cộng đồng dân cư tại chỗ đã dung nạp, kết hợp kể cả sáng tạo nên những thành tố văn hóa nghệ thuật khác nhau để hình thành nên trò chơi, trò diễn Bài chòi đặc sắc truyền lại cho đến ngày nay. Các tác giả Hoàng Chương, Nguyễn Có đã có nhận xét xác đáng về chức năng vui chơi giải trí này của Bài chòi: “Bài chòi là một trò chơi vui xuân mang đậm tính tập thể và tính dân gian. Tuy trong cuộc chơi có tổ chức ăn tiền nhưng cái cốt lõi là để mua vui… Người tham gia “đánh Bài chòi” là tham gia sinh hoạt văn hóa, tham gia trò diễn xướng dân gian mang tính sân khấu rõ nét…

Vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của cộng đồng này của Bài chòi thể hiện rõ nhất trong các dịp hội hè, lễ Tết, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán. Vào dịp này hầu như làng xã nào cũng tổ chức hội Bài chòi và Bài chòi trở thành là một trò chơi giải trí đầu năm gắn với những ước mong về những điều hanh thông, tốt đẹp trong dịp năm mới. Ở đây, Bài Chòi không còn là trò chơi theo nghĩa phương Tây, mà là nghi thức. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, ranh giới giữa chơi và thờ cúng rất mong manh. Việc tham gia hội Bài Chòi đầu xuân thực chất là một hành vi “đánh cược với số phận” trong một không gian thiêng (đình làng, dịp Tết). Người nông dân thông qua sự may rủi của con bài để trắc nghiệm vận mệnh của mình trong năm mới. Do đó, ngoài tính “giải trí”, Bài chòi còn là một cách trấn an tinh thần cho cộng đồng trước thiên nhiên bất định. Vì vậy trong những hội chơi Bài chòi đầu năm mới người ta thường không đưa vào các con bài có thể liên tưởng đến những điều không tốt như ông ầm, thái tử, đỏ mỏ. Ông ầm có thể liên tưởng đến té ngã “Đang ngồi bực lỡ buông câu, Bổng đâu té xuống vực sâu cái ầm”. Thái tử vì có từ “tử” không tốt. Đỏ mỏ là từ dân gian chỉ những người hay cãi cọ, gây gỗ. Đây là những con bài có tên gợi liên tưởng đến những điều kiêng cữ đầu năm nên người ta tránh đi.

Bảng phân tích cấu trúc biểu tượng các con bài bị kiêng kỵ trong Bài Chòi xứ Quảng

Tên con bài

Nghĩa đen/Hình ảnh

Nghĩa biểu tượng (Dân gian liên tưởng)

Cơ chế Kiêng kỵ (Phân tích Khoa học)

Ông Ầm

Người té ngã

Tai nạn, rủi ro, sự sụp đổ

Mô phỏng tượng hình: Nỗi sợ về sự mất an toàn vật lý trong lao động nông nghiệp.

Thái Tử

Con vua

Chết chóc (do từ “Tử”)

Đồng âm khác nghĩa: Sự chi phối của yếu tố Hán-Việt trong tâm thức sợ cái chết.

Đỏ Mỏ

Mỏ (miệng) đỏ

Cãi vã, thị phi, bất hòa

Hoán dụ: Cái miệng là nguồn gốc tai họa (“Họa tòng khẩu xuất”). Ước vọng hòa hợp xóm làng.

 

Tính chất vui chơi giải trí lành mạnh của Bài chòi còn được thể hiện ở chỗ đây không phải là trò chơi hơn thua, sát phạt. Đây là một trong những đặc điểm cốt lõi làm nên giá trị của Bài Chòi chính là sự chuyển hóa từ tính chất “sát phạt” của cờ bạc sang tính chất “thưởng thức” của nghệ thuật. Trong hồ sơ UNESCO đã xác định: “Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sự hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu”. Sự chuyển hóa này diễn ra thông qua vai trò của “Anh Hiệu”, “Chị Hiệu” (người hô thai). Nếu trong các trò chơi bài lá thông thường, việc xướng tên con bài chỉ mang tính thông báo, thì trong Bài Chòi, việc xướng tên được nâng lên thành nghệ thuật. Người chơi không chỉ chờ đợi kết quả thắng thua, mà họ chờ đợi cách thức con bài xuất hiện thông qua lời ca tiếng hát.

Việc hơn thua về tiền bạc chỉ mang tính chất tượng trưng, lấy vui chơi làm gốc vì không có ai trở nên nghèo hơn, khổ hơn vì chơi Bài chòi mà như đã nói ở trên đây là trò chơi nhằm tìm kiếm niềm vui và sự may mắn đầu năm, nhằm thưởng thức hoạt động hô hát để hòa mình vào không khí náo nức, tươi mới của mùa xuân năm mới.

  1. Vai trò thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa

Hưởng thụ và sáng tạo văn hóa là nhu cầu cơ bản, cốt lõi của con người, tuy hai nhưng là một. Hưởng thụ nhưng đồng thời cũng luôn tìm tòi, sáng tạo để làm cho việc hưởng thụ ngày càng nâng cao hơn, để đời sống ngày càng phong phú, đa dạng hơn, mang “tính người hơn”. Đây là quá trình phát triển không ngừng nghỉ để con người ngày càng hoàn thiện và mang tính nhân văn ngày càng cao. Ở khía cạnh này ta thấy rằng Bài chòi là một hoạt động tổng hợp nhiều thành tố từ vui chơi giải trí đến văn hóa nghệ thuật giúp con người tìm thấy ở đây một môi trường, một hoàn cảnh để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng.

Giống như những cộng đồng chủ thể ở các vùng miền khác trong cả nước, cộng đồng chủ thể văn hóa xứ Quảng vốn gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, vì vậy cả năm quần quật với hoạt động cày cấy, chăm sóc ruộng đồng, vườn tược hoặc bận rộn với các công việc chăn nuôi gia súc, thủ công gắn với nông nghiệp. Công việc đồng áng chỉ được tạm nghĩ vào các ngày lễ tết, hội hè hàng năm. Đây cũng là dịp để cá nhân, cộng đồng nghỉ ngơi vui chơi, hưởng thụ văn hóa theo tập quán “tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Và hơn ở đâu hết Bài chòi chính là nơi để mọi người gặp gỡ, vui chơi và hưởng thụ văn hóa. Đến với Bài chòi, cùng với việc vui chơi giải trí, từng cá nhân và cộng đồng còn được thưởng thức những lời hô hát, những làn điệu dân ca mượt mà, dân dã những động tác vui nhộn, hoạt kê được anh Hiệu diễn xuất điêu luyện, sáng tạo. Đối với anh Hiệu, quá trình hô hát, biểu diễn cũng là quá trình tích lũy kinh nghiệm, cảm xúc để ứng tác, ứng diễn nên những lời hát, làn điệu mới, động tác mới hoặc những biến tấu về nghệ thuật nội dung hô hát, diễn xuất. 

Đối với người chơi, quá trình thưởng thức đồng thời là quá trình thu nhận, dung nạp hình tượng, xúc cảm làm tư liệu để ứng tác nên những câu thơ ca hò vè mới trong sinh hoạt cộng đồng, trong các dịp hát hò khoan đối đáp, hò giã vôi, giã gạo, chèo thuyền… Một số câu hát trong các dịp này đã được sử dụng để hô các con bài trong Bài chòi. Chúng ta có thể thấy được quá trình tương tác này qua một số trường hợp sau. Đây là câu hát chia cách trong hát hò khoan được dùng để hô con Nọc thược:

Nghĩ gia đình tôi xa bôn xa bức

Đấm ngực rồi lại sang tay

Anh đi ra dặn em ở nhà

Cùng ngôn tận lý em nghĩ mà nuôi con

Anh đi ra cách núi lìa non

Bữa ăn miếng ngọt miếng ngon lo cho cha mẹ chồng

Bạc tháng em lãnh ba đồng

Ruộng thổ phần thuê mướn nuôi công cho chàng

Ngày nay nhà nước giặc an

Cho anh phản bộ về làng nghỉ ngơi

Anh về vừa mới tới nơi

Nghe cha mẹ nói mấy nhiêu lời xót xa

Em đi đâu bỏ mẹ bỏ cha

Bỏ con chiu chít vậy mà em theo trai

Năm ngoái em có đậu thai

Em uống thuốc em phá thiên hạ người ngoài đều hay

Năm ngoái chí những năm nay

Ban đêm em ngủ đổ ban ngày em ngủ lang

Phải chi anh bỏ xứ anh đi hoang

Em ở nhà em làm vậy cũng không oan tấm tình

Ngày rày xuất ngũ hành binh

Đầu tên mũi đạn em ở nhà em lãnh bạc tháng em xin ăn

Phải chi thời em thủ bổn thủ căn

Ngày em buôn tần bán tảo tối em băn khoăn nhớ chồng

Em đi đâu bỏ cửa nhà không

Mê say trai gái em lấy bạc đồng em cho

Động trong nhà em ra ngoài ngõ

Động xóm dưới thì em mò lên xóm trên

Tội em có giết cũng nên

Có đâm cũng đáng đừng có trách chàng sao đành đoạn không thương

Bớ em ơi em ở làm vầy bất hiếu bất lương

Nọc ra mà đánh tan xương cũng đành

(Con Nọc thược)

Bài hô “Con Nọc Thược” là một kiệt tác của văn học dân gian xứ Quảng, phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc và tâm lý phức tạp của người phụ nữ.

Bối cảnh xã hội: “Ngày nay nhà nước giặc an/ Cho anh phản bộ về làng nghỉ ngơi”. Câu hát xác lập bối cảnh hậu chiến, người lính trở về. Điều này cho thấy Bài Chòi không đóng băng trong quá khứ mà liên tục cập nhật hơi thở thời đại.

Ngôn ngữ và Tâm lý: Tác giả sử dụng các từ láy đặc trưng phương ngữ Quảng Nam: “xa bôn xa bức”, “chiu chít”. “Xa bôn xa bức” không chỉ là xa về khoảng cách mà còn gợi sự bế tắc, mù mịt.

Lời biện minh của người vợ ngoại tình: “Phải chi anh bỏ xứ anh đi hoang/ Em ở nhà em làm vậy cũng không oan tấm tình”. Đây là một lập luận pháp lý đầy tính nhân bản. Người vợ không chối tội (“Năm ngoái em có đậu thai/ Em uống thuốc em phá...”), nhưng cô biện minh bằng hoàn cảnh kinh tế (“Bạc tháng em lãnh ba đồng”) và sự vắng mặt của người chồng.

Sự va đập của các giá trị: Bài hô kết thúc bằng sự trừng phạt tàn khốc: “Nọc ra mà đánh tan xương cũng đành”. Cái kết này thỏa mãn luân lý Nho giáo (trừng phạt kẻ bất chính), nhưng toàn bộ phần trước đó lại là tiếng nói cảm thông cho thân phận người phụ nữ cô đơn.

Sự sáng tạo ở đây không chỉ là gieo vần, mà là sự dũng cảm nhìn thẳng vào các bi kịch gia đình và đưa nó lên sân khấu dân gian. Bài Chòi là sân khấu của người bình dân. Ở đó, những góc khuất của xã hội (ngoại tình, đói nghèo, chiến tranh) được phơi bày trần trụi, phá vỡ sự im lặng giả tạo của lễ giáo phong kiến.

Đây là câu hát sinh tử trong hò khoan được dùng để hô con Chín gối:

Tay bên tả chàng bưng siêu thuốc Bắc

Tay bên hữu chàng bợ lấy lò than

Bước lên cửa bệ vén mùng loan

Thấy em thất sắc hai hàng lệ rơi

Giậm chân xuống đất kêu trời

Ai làm cho thiếp đổi hồn dời âm ty

Rồi đây chàng phải chịu tang chế một khi cửa buồng

Về nhà treo bức liễn vuông

Treo lên rớt xuống lụy tuôn hai hàng

Ai làm cho thiếp thác xuống suối vàng

Ngọn hương ngọn khói bỏ mình chàng bơ vơ

Đêm năm canh đáo đến giường thờ

Khăn thì lau nước mắt tay rờ ngọn nhang

Một mình chàng than thở thở than

Bỏ gối nghiêng nệm chích phòng loan một mình

(Con Chín gối)

 

Bài hô “Con Chín Gối”  mô tả cảnh tang chế chi tiết đến rợn người: Hình ảnh: “siêu thuốc Bắc”, “lò than”, “vén mùng loan”, “bức liễn vuông”, “ngọn nhang”. Đây là những vật dụng mang tính biểu tượng cao trong nghi thức tang lễ của người Việt miền Trung.

Cảm xúc: “Giậm chân xuống đất kêu trời/ Ai làm cho thiếp đổi hồn dời âm ty”. 

Thủ pháp nghệ thuật: Từ “gối” trong câu cuối được dùng để bắt vần sang con bài “Chín Gối”.

 Tiếng khóc than ai oán này được trình diễn giữa tiếng trống hội rộn ràng tạo nên một hiệu ứng thẩm mỹ tương phản mạnh mẽ. Chính sự tương phản này làm nên sức hấp dẫn của nghệ thuật Bài Chòi: Nó là sự tổng hòa của Hỉ - Nộ - Ái - Ố, không đơn điệu một chiều. 

Xét về một tầng ý nghĩa sâu xa khác, những câu hô hát này mang tính chất thanh lọc” nghe về nỗi đau của người khác (trong nghệ thuật) giúp người xem giải tỏa những ẩn ức, lo âu của chính mình. Sự bi thương trong lời hô con “Chín Gố” không làm người nghe buồn đi, mà làm họ trân trọng hơn sự sum họp hiện tại. Đây là ví dụ điển hình cho thấy Bài Chòi có khả năng chạm đến những cung bậc cảm xúc sâu lắng nhất của con người, khơi dậy lòng trắc ẩn và tôn vinh các giá trị đạo đức truyền thống.

  1. Vai trò giao tiếp, cố kết cộng đồng

Đây là vai trò làm nên sức sống bền vững, sức thu hút mạnh mẽ đồng thời cũng là thành tố tạo nên giá trị độc đáo, riêng có của trò chơi- nghệ thuật Bài chòi. Người dân xứ Quảng tìm đến với Bài chòi không chỉ để vui chơi giải trí, để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa mà sâu xa hơn, tiên quyết hơn, họ đến với Bài chòi để thực hiện, thể hiện nhu cầu giao tiếp, cố kết cộng đồng. Vai trò này thể hiện qua các khâu chuẩn bị tổ chức, tham gia vui chơi và kết thúc hội Bài chòi hàng năm. Những ngày cuối tháng chạp, cùng với việc chuẩn bị Tết cho cá nhân, gia đình, những thành viên của xóm làng còn tham gia các công việc chung như dọn dẹp đường sá, trang trí, bài trí đình làng cùng các di tích tín ngưỡng của cộng đồng, trong đó có việc chuẩn bị mặt bằng, vật liệu cho hội chơi Bài chòi:

Vợ lo nếp lá đậu mè

Chồng lo mài rựa chặt tre dựng chòi

Trong sự phân công lo việc Tết này ta thấy người chồng - người đàn ông trong gia đình còn đảm nhận thêm một công việc đó là chuẩn bị vật liệu cho việc dựng các chòi cho hội Bài chòi của cộng đồng. Công việc này diễn ra vào dịp giáp Tết hàng năm và đây cũng là dịp để giao tiếp và cố kết cộng đồng, thắt chặt tình làng nghĩa xóm thông qua hoạt động chuẩn bị vui chơi ngày Tết. Kẻ góp của người góp công, người cho mượn phương tiện, vật liệu,… mọi việc diễn ra một cách tự nguyện tạo thành một mối quan hệ cố kết cộng đồng chặt chẽ.

Theo một góc nhìn khoa học quy trình chuẩn bị như một khế ước xã hội. Đây là sự phân công lao động theo giới “Vợ lo nếp lá đậu mè/ Chồng lo mài rựa chặt tre dựng chòi”. Một cách phân chia điển hình trong xã hội nông nghiệp. Việc chuẩn bị cho hội Bài Chòi không chỉ là hậu cần, mà là quá trình tái khẳng định vai trò của từng thành viên trong cộng đồng. Và sự “tự nguyện”, “góp của góp công” chính là biểu hiện của Vốn xã hội. Hội Bài Chòi là dịp để tích lũy và kiểm kê nguồn vốn này. Một làng tổ chức được hội Bài Chòi lớn chứng tỏ làng đó đoàn kết, kinh tế vững mạnh.

Vai trò giao tiếp, cố kết cộng đồng này của Bài chòi cũng được thể hiện rõ nét trong lúc vui chơi. Khi hội Bài Chòi diễn ra, sân hội trở thành trung tâm giao tiếp của làng xã.

- Giao tiếp liên thế hệ: Người già truyền đạt kinh nghiệm, tích tuồng cho người trẻ.

- Giao tiếp liên gia đình: Các gia đình gặp gỡ, chúc Tết.

- Hòa giải mâu thuẫn: Không khí vui tươi, cởi mở của hội Bài Chòi giúp xóa nhòa những xích mích nhỏ nhặt trong năm cũ.

Tham gia chơi Bài Chòi cũng chính là tham gia một nghi thức chào hỏi đầu năm. Sự hiện diện tại hội Bài Chòi là cách để cá nhân khẳng định tư cách thành viên của mình trong cộng đồng làng xã. Tham gia chơi Bài chòi cũng chính là tham gia gặp mặt đầu năm để chúc Tết lẫn nhau, để gắn kết mối quan hệ bà con hàng xóm láng giềng cũng như quan hệ cộng đồng. Có thể nói Bài chòi là một hội vui xuân truyền thống ở đó các cá nhân có điều kiện, môi trường để gặp gỡ, giao tiếp cộng đồng qua đó tăng cường quan hệ cố kết cộng đồng một cách hiệu quả.

  1. Vai trò thể hiện và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng

Trước hết có thể thấy rằng cùng với “cây đa, bến nước, sân đình” thì hội Bài chòi ngày xuân đã góp phần khắc họa rõ nét bức tranh làng quê xứ Quảng vừa thanh bình, yên ả vừa sinh động, tràn đầy màu sắc vào những ngày lễ Tết. Sự có mặt của hội Bài chòi ở một sân đình, một bến sông, một góc phố với những chiếc chòi tranh tre dân dã, xinh xắn, với những lá cờ hội phất phới, những tiếng trống điểm nhịp rộn ràng, những người vào ra tấp nập trong trang phục mới tinh, trong tiếng chào hỏi, chúc Tết rộn rã… ngày Tết của địa phương trở nên rạng rỡ, sinh động, tràn đầy sức sống, sắc xuân. Có lẽ vì vậy mà có một giai đoạn hội Bài chòi bị gián đoạn ở nhiều địa phương, không khí ngày Tết ở đó bỗng trở nên thiếu vắng, đơn điệu.

Hội Bài chòi với những chiếc chòi con tranh tre, mây lá quây quần quanh các chòi cái tại một không gian công cộng nào đó của làng xã còn thể hiện một khung cảnh làng quê yên ả, một xã hội công xã nông thôn với sự cộng cư của nhiều gia đình xung quanh một thiết chế chung của cộng đồng. Cấu trúc này mô phỏng cấu trúc của làng xã Việt Nam (Nhà dân quây quần quanh Đình làng/Nhà rông). Trong Bài Chòi, sự tương tác không chỉ là một chiều từ Anh Hiệu xuống khán giả, mà còn là sự tương tác ngang giữa các Chòi Con với nhau (chúc tụng, trêu ghẹo). Không gian này phá vỡ sự biệt lập của các gia đình, tạo ra một không gian công cộng thực sự, nơi mọi người bình đẳng trong cuộc chơi. Cờ hội phất phới, tiếng trống chầu, tiếng đàn nhị, tiếng hô thai... tất cả tạo nên một “hệ sinh thái văn hóa” đậm chất Quảng.

Dưới khía cạnh bảo tồn, Bài chòi là một hoạt động lưu giữ, bảo tồn nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể từ ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian đến tri thức dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng. Các loại hình này được thực hành, lưu truyền qua việc hô hát của anh Hiệu, qua kỹ thuật dựng, trang trí các chòi và khu vực hội Bài chòi, qua việc in các con bài, qua các tập tục, tín ngưỡng liên quan đến trò chơi Bài chòi. Đây chính là hình thức bảo tồn thông qua cộng đồng dân cư tại chỗ, một dạng thức của bảo tàng sống.

Bài Chòi đóng vai trò như một kho lưu trữ sống động và an toàn cho các giá trị văn hóa phi vật thể khác. Thông qua hoạt động hô hát và diễn xướng, Bài Chòi bảo tồn:

- Phương ngữ: Tiếng Quảng Nam với những từ vựng, ngữ điệu đặc trưng được lưu giữ nguyên vẹn trong lời hô.

- Kho tàng văn học dân gian: Ca dao, tục ngữ, hò vè được “sống” lại trong môi trường diễn xướng, tránh nguy cơ mai một trên văn bản giấy.

- Nghệ thuật tạo hình: Kỹ thuật làm thẻ bài (khắc gỗ, in ấn), kỹ thuật dựng chòi tre, trang trí cờ phướn.

- Tín ngưỡng dân gian: Các nghi thức cúng Hiệu, cúng Tổ nghề trước khi mở hội.

Hội Bài chòi là hình thức bảo tồn “tại chỗ” hiệu quả nhất, nơi di sản được nuôi dưỡng bởi chính cộng đồng chủ thể.

  1. Vai trò phổ biến và giao lưu văn hóa

Đây là vai trò, chức năng mới của trò chơi Bài chòi. Thực tế cho thấy tại xứ Quảng cũng như tại những địa phương ở miền Trung, có một giai đoạn trò chơi Bài chòi bỗng dưng bị trầm lắng và có nguy cơ mai một. Sau những cố gắng của ngành văn hóa, của các nhà chuyên môn và của cộng đồng cộng với những cơ hội mới khi mà lễ hội được phục hồi, hoạt động du lịch được phát triển, gần đây Bài chòi lại được phục hồi ở nhiều địa phương xứ Quảng. Năm 1998, Hội An đưa Bài chòi vào trình diễn ở hoạt động Đêm phố cổ hàng tháng. Đây là bước ngoặt chuyển đổi Bài Chòi từ một sinh hoạt thời vụ (chỉ dịp Tết) thành một sản phẩm văn hóa thường xuyên phục vụ du lịch. Mô hình này đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Nhiều địa phương của xứ Quảng cũng đã phục hồi trò chơi Bài chòi trong các dịp lễ hội lớn, các ngày hội văn hóa, các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của địa phương và đất nước. Bài chòi đã được mang đi giới thiệu trình diễn tại một số địa phương trong nước vào các ngày hội văn hóa của các địa phương ngoài tỉnh. Bài chòi cũng đã được mang đi trình diễn ở 7 quốc gia, vùng lãnh thổ qua đó góp phần giới thiệu những nét đặc sắc của Bài chòi ra nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng giao lưu văn hóa trên phạm vi quốc tế. Bài chòi không còn bó hẹp trong không gian làng xã mà đã trở thành đại sứ văn hóa. Thông qua Bài Chòi, bạn bè quốc tế hiểu thêm về tính cách con người miền Trung: lạc quan, hóm hỉnh, trọng tình nghĩa và đầy tài hoa.

Với những giá trị vốn có, sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, lập hồ sơ đệ trình, đến ngày 7/12/2017, nghệ thuật Bài chòi miền Trung đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, góp phần phổ biến ra thế giới một loại hình trò chơi - trò diễn xướng dân gian đặc sắc, độc đáo của xứ Quảng nói riêng, miền Trung nói chung.

 

Kết luận

Bài chòi là một trò chơi và là một loại hình nghệ thuật dân gian đa thành tố văn hóa nghệ thuật, hình thành từ lâu đời, gắn bó chặt chẽ với đời sống của người dân ở các xóm thôn, làng bản từ miền ngược cho đến miền xuôi của xứ Quảng. Tuy có một số biến đổi so với truyền thống nhưng đến nay Bài chòi vẫn chưa mất đi sức thu hút thể hiện ở chỗ Bài chòi đã có mặt trở lại tại nhiều địa phương của xứ Quảng.

Hiện nay chính quyền địa phương đã ban hành Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019 - 2025 với nhiều biện pháp, chính sách cụ thể. Trước mắt đã tổ chức các lớp tập huấn truyền dạy, bồi dưỡng kỹ năng thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi cho các nghệ nhân, câu lạc bộ, nhóm, những người có khả năng tiếp thu và thực hành di sản Bài chòi. Vấn đề khó nhất hiện nay là làm sao tìm lại, xây dựng cho được một đội ngũ công chúng yêu thích, hâm mộ, tâm huyết với nghệ thuật Bài chòi. Bởi vì điều này sẽ quyết định sự sống còn của Bài chòi. Muốn làm được điều này, cùng với việc tuyên truyền, quảng bá về các giá trị độc đáo của Bài chòi, việc phục hồi mẫu và phục hồi rộng rãi, trong điều kiện hiện nay bên cạnh việc giữ gìn, bảo tồn các yếu tốc gốc, yếu tố truyền thống cốt lõi của Bài chòi chúng ta cũng cần phải dung nạp những yếu tố mới gắn với khoa học công nghệ, với kỹ thuật hiện đại để tăng cường sức hấp dẫn cho nghệ thuật Bài chòi, đáp ứng được thị hiếu của công chúng hiện nay.


 

* Tài liệu tham khảo:

  1. Nhiều tác giả (2023), Di sản Bài chòi xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng.

  2. Hồ sơ đề cử UNESCO (2017), Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

  3. Website Cục Di sản văn hóa (2017). Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nguồn: https://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-bai-choi-trung-bo-viet-nam-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1535

  4. UBND tỉnh Quảng Nam (2018), Kế hoạch số 6202/KH-UBND ngày 30/8/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam.