Từ Báo Tiếng Dân đến trách nhiệm xã hội của người làm báo

Ngày đăng: 20/06/2026

Trong gần hai mươi năm hoạt động báo chí, Huỳnh Thúc Kháng đã để lại dấu ấn sâu đậm với tư cách một nhà báo lớn, một nhà ngôn luận xuất sắc. Với bản lĩnh chính trị kiên cường, tư tưởng chính trực và tinh thần không khuất phục trước những chính sách hà khắc của chế độ thực dân, cụ đã biến ngòi bút thành vũ khí sắc bén trên mặt trận đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do và tiến bộ xã hội.

Chân dung cụ  Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Những bài viết của Huỳnh Thúc Kháng luôn thể hiện tầm tri thức uyên bác, sự sắc sảo trong lập luận và nhãn quan sâu rộng trước các vấn đề của đất nước. Mỗi trang báo không chỉ phản ánh hiện thực xã hội một cách chân thực, khách quan mà còn truyền tải khát vọng canh tân, tinh thần yêu nước và trách nhiệm công dân cao cả. Phong cách viết mạch lạc, đanh thép nhưng giàu sức thuyết phục đã tạo nên một dấu ấn riêng, làm nên một “chất Huỳnh Thúc Kháng” độc đáo trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Ngày 10/8/1927 báo Tiếng Dân do cụ sáng lập ra số đầu tiên, cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, đặt trụ sở tại Huế, đã trở thành một hiện tượng đặc biệt trong đời sống báo chí nước ta nửa đầu thế kỷ XX. Với chủ trương chống chính quyền bảo hộ, hầu hết các bài xã luận đăng trên Tiếng Dân đều do cụ Huỳnh Thúc Kháng viết với mục đích kích thích lòng yêu nước của độc giả. Tờ báo có khổ 58 x 42cm, phát hành mỗi tuần hai kỳ. Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, báo ra ba kỳ một tuần. Mặc dù chỉ có 4 trang nhưng do khổ báo lớn nên dung lượng bài vở của báo khá phong phú. Đây là tờ báo đầu tiên ở miền Trung và là tờ nhật báo duy nhất xuất hiện trước năm 1930.

                     Báo Tiếng Dân số 676 ra ngày 24/3/1934

Trong bài viết công bố khi chuẩn bị xuất bản Tiếng Dân, Huỳnh Thúc Kháng đã nêu ba điều tâm nguyện lớn đối với tờ báo, được xem như kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động của Tiếng Dân trong suốt 16 năm tồn tại.

Mở tờ báo của quốc dân: Khát vọng khai mở một diễn đàn công khai cho dân tộc

Lời phát nguyện đầu tiên của Huỳnh Thúc Kháng là quyết tâm cho ra đời một tờ báo quốc ngữ ở Trung Kỳ, giữa kinh đô Huế, dù phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thậm chí "ra được vài số rồi đình bản cũng cam lòng".

Đằng sau lời phát nguyện ấy là một nhận thức sâu sắc về sức mạnh của báo chí. Sau thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, đặc biệt chịu ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, Huỳnh Thúc Kháng nhận thấy rằng muốn chấn hưng dân tộc trước hết phải khai mở dân trí. Muốn khai mở dân trí cần có diễn đàn công khai để truyền bá tư tưởng tiến bộ, phản ánh đời sống xã hội và kết nối tiếng nói của nhân dân. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, việc xin phép xuất bản một tờ báo bằng tiếng Việt không hề dễ dàng, chính quyền thực dân kiểm soát chặt chẽ hoạt động báo chí; nhiều tờ báo yêu nước liên tục bị đình bản. Thế nhưng Huỳnh Thúc Kháng vẫn kiên trì thực hiện và sự ra đời của Tiếng Dân ngày 10-8-1927 đã chứng minh ý chí ấy. Từ “Tiếng Dân” trên tờ La Tribune Indochinoise số ra ngày 24/12/1926: “Đó là sự vui mừng, sự buồn tủi và sự chờ đợi ấp ủ trong lòng hàng triệu đồng bào. Dân là đầu mối của nước. Tiếng Dân đi sát với những vấn đề trong nước. Nếu chánh phủ biết rõ những nguyện vọng sâu xa của dân thì cần gì đối xử bất công với Tiếng Dân như đã từng đối xử với vài tờ báo đã ra mắt gần đây và đã bị đóng cửa. Tờ báo này thật xứng đáng để mang tên là Tiếng Dân, vì trong thực tế, phải nhờ đến báo chí thì Tiếng Dân mới bộc lộ ra được”. Trong suốt 16 năm tồn tại, Tiếng Dân xuất bản 1.766 số báo, trở thành một trong những tờ báo có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Kỳ và cả nước. Điều đó cho thấy phát nguyện đầu tiên không chỉ là khát vọng cá nhân mà còn đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội đương thời về một tiếng nói đại diện cho quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân.

Làm báo vì quốc dân: Đặt lợi ích dân tộc lên trên danh lợi cá nhân

Nếu phát nguyện thứ nhất thể hiện tinh thần dấn thân thì phát nguyện thứ hai thể hiện rõ mục đích cao cả của nghề báo. Huỳnh Thúc Kháng xác định việc xuất bản Tiếng Dân không nhằm mưu cầu danh vọng hay lợi ích riêng mà để phục vụ quốc dân. Cụ nói rằng “Theo thuyết chánh danh của Khổng Tử, làm đúng như tên “Tiếng Dân”, thà chết, quyết không để cho cái gì lay chuyển hay lôi kéo đi đường khác.”

Để cứu nước phải bắt đầu từ việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng dân khí và cải thiện dân sinh và báo chí chính là công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu đó.

Nội dung của Tiếng Dân phản ánh rất rõ tinh thần phụng sự nhân dân. Tờ báo dành nhiều bài viết cho các vấn đề giáo dục, kinh tế, đạo đức xã hội, cải cách hành chính, phát triển sản xuất, đời sống người lao động và quyền lợi của người dân. Nhiều vấn đề tưởng chừng bình thường nhưng lại gắn trực tiếp với vận mệnh đất nước được đặt ra một cách thẳng thắn và có trách nhiệm.

Huỳnh Thúc Kháng từng xác định: “Mục đích của Bản báo là theo tâm lý chân chính của quốc dân mà phô bày trên tờ giấy, cốt giữ gìn cái nền đạo đức sẵn có của ông bà, mà dung hợp với học thuật tư tưởng mới, để mở mang đường trí thức, đường kinh tế trong nước, công lý là hướng đường đi, công lợi là nơi quy túc, không thiên vị về đảng phái riêng, không cổ động về ảnh hưởng trống, cùng quốc dân làm bạn mà có hơi trái tai đắng miệng, đem lòng thành mà can lại quốc dân, lấy dư luận làm thầy mà cũng có hồi vạch lối tìm phương, nêu lẽ phải để đem đường cho dư luận. Đối với đồng bào xin làm vị thuốc đắng, mong rằng bỏ lòng ghen ghét mà dốc dạ thương yêu; đối với Chính phủ xin làm người bạn ngay, mong rằng theo trình độ dân mà thật lòng cải cách. “Trăm vạn quân không bằng một tờ báo”, Bản báo không dám mượn câu ấy mà tự cao, “Một việc thực hơn trăm điều nói không”, Bản báo xin ghi câu nầy mà gắng sức”. Có thể nói, tôn chỉ báo chí của Huỳnh Thúc Kháng là dùng ngòi bút để phụng sự quốc dân, khai mở dân trí, bảo vệ lẽ phải và giữ vững khí tiết của người làm báo trước mọi áp lực của thời cuộc. Quan niệm ấy thể hiện một tầm nhìn tiến bộ về vai trò phản biện xã hội của báo chí – điều vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

Giữ vững khí tiết người cầm bút: Bản lĩnh trước áp lực và cường quyền

Lời phát nguyện thứ ba là giữ vững khí tiết, không khuất phục trước bất kỳ sức ép nào. Đây có lẽ là phát nguyện khó thực hiện nhất, nhưng cũng là điều Huỳnh Thúc Kháng đã chứng minh bằng cả cuộc đời mình.

Lời mở đầu của Tiếng Dân số 1 được xem như bản tuyên ngôn về tự do ngôn luận, về cái đích vươn tới của người lĩnh trọng trách cầm bút. Cụ viết "Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”. Đó là quyền tự do không ai, không thế lực nào được phép cấm đoán, nhưng không phải người cầm bút nào cũng xác định được như thế. Cũng trên Tiếng Dân ra ngày 1.5.1929, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục khẳng định “Tôi là nhà cách mạng công khai, tôi đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam một cách công khai. Vì đất nước Việt Nam có biên cương và lãnh thổ công khai trên bản đồ thế giới. Cho nên, tôi cũng công khai nói lên tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ. Do đó, tôi thách đố mọi trừng phạt và hiểm nguy đến với cá nhân tôi”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: “Khi đó, tôi tham gia hoạt động trong Chi bộ Cộng sản báo Tiếng Dân, làm biên tập viên tại tòa báo (bút danh Vân Đình hay Hải Thanh). Dù tư tưởng khác nhau, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giúp đỡ chúng tôi như khi viết về chỉ thị của Đảng nên viết bằng lời lẽ cổ phong để bài vở dễ lọt qua mạng lưới kiểm duyệt của Pháp. Nhiều khi tôi viết mạnh bạo quá, bài bị kiểm duyệt hết, cụ không thay bài khác mà cứ để giấy trắng, cụ bảo như thế là độc giả sẽ biết ở chỗ này là bài đả mạnh thực dân, khiến chúng phải cắt bỏ. Như vậy tờ báo thỉnh thoảng có những khoảng bỏ giấy trắng cũng là một cách vạch mặt “dân chủ” giả hiệu thực dân...”.

Trong thời gian tồn tại, dưới chế độ thuộc địa không có tự do báo chí, liên tục đối mặt với sự kiểm duyệt nhiều bài viết bị cắt bỏ, nhiều số báo bị cảnh cáo hoặc tịch thu nhưng, Huỳnh Thúc Kháng vẫn kiên trì giữ vững lập trường yêu nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân.

Giá trị còn mãi với báo chí hôm nay

Có thể nói làm báo với Huỳnh Thúc Kháng là: dám dấn thân, phụng sự nhân dân và giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp. Nhìn lại hành trình của Tiếng Dân và ba lời phát nguyện của Huỳnh Thúc Kháng, di sản mà cụ để lại đã vượt qua giá trị của những tác phẩm báo chí đơn thuần còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp, về bản lĩnh của người cầm bút trước thời cuộc – giá trị cốt lõi làm nên sức sống bền vững của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp báo chí và phong trào yêu nước Việt Nam, tên tuổi Huỳnh Thúc Kháng mãi được tôn vinh như một biểu tượng của nền báo chí dân tộc, một nhà báo cách mạng tiền bối tiêu biểu, người đã dành trọn cuộc đời để phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Trong thời đại truyền thông số với sự bùng nổ của thông tin và mạng xã hội, báo chí đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Càng trong bối cảnh đó, những giá trị mà Huỳnh Thúc Kháng để lại càng trở nên đáng suy ngẫm. Người làm báo không chỉ cần năng lực chuyên môn mà còn phải có trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh bảo vệ sự thật.

Phan Ngọc Mỹ

(Phòng Sưu tầm, Trưng bày và Bảo quản)