Tìm kiếm

Vai trò của bài Chòi trong đời sống Văn hóa cộng đồng xứ Quảng

Vai trò của bài Chòi trong đời sống Văn hóa cộng đồng xứ Quảng

VAI TRÒ CỦA BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG XỨ QUẢNG

 

Trần Văn An

Phó Chủ tịch Hội VNDG thành phố Đà Nẵng

Tóm tắt

Trò chơi Bài chòi hoặc nghệ thuật Bài chòi là một di sản văn hóa phi vật thể độc đáo, lâu đời của xứ Quảng nói riêng, khu vực miền Trung từ Quảng Bình cũ nay là Quảng Trị đến Bình Thuận cũ nay là Lâm Đồng. Ngày 7/12/2017, nghệ thuật Bài chòi đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

    Bài chòi lưu dấu bên trong bề dày lịch sử - văn hóa của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, là loại hình nghệ thuật đa dạng, tổng hợp nhiều thành tố văn hóa nghệ thuật và phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa địa phương. Với các vai trò to lớn về thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí cộng đồng, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa, giao tiếp và cố kết cộng đồng, thể hiện và bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, phổ biến và giao lưu văn hóa tạo cho Bài chòi có sức sống bền bỉ và hiện đang được phục hồi, bảo tồn, phát huy hiệu quả ở nhiều địa phương của xứ Quảng.

Đặt vấn đề

    Bài chòi hoặc nghệ thuật Bài chòi là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, lâu đời của xứ Quảng nói riêng, vùng Trung Bộ kéo dài từ Quảng Bình cũ nay là Quảng Trị đến Bình Thuận cũ nay là Lâm Đồng nói chung. Di sản này đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại phiên họp lần thứ 12 ngày 7/12/2017. Trong hồ sơ đề cử đã xác định: “Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là một loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học… nghệ thuật Bài chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong cộng đồng làng xã. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục trong nghệ thuật. Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sự hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu và phổ biến khắp miền Trung. Vì thế mà sinh hoạt Bài chòi trở thành môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật đồng thời cũng là nơi bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền”.  Theo các định nghĩa này có thể xác định nghệ thuật Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian có sự kết hợp không thể tách rời giữa trò chơi và diễn xướng cùng một số thành tố văn hóa nghệ thuật khác. Và như vậy tên gọi nghệ thuật Bài chòi có nội dung trùng với tên gọi Bài chòi dân gian hay dùng. Đã có nhiều bài viết, chuyên đề nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc, chức năng, các thành tố văn hóa nghệ thuật liên quan đến Bài chòi. Trong chuyên đề này tôi muốn tiếp cận một số vấn đề về vai trò của Bài chòi trong đời sống văn hóa cộng đồng xứ Quảng.

    Xứ Quảng trước đây có phạm vi rộng kéo dài từ phía Nam đèo Hải Vân đến núi Đá Bia thuộc Phú Yên cũ, nay là Đaklak. Sau nhiều lần thay đổi địa giới đến giữa thế kỷ 19 thời Tự Đức thứ 5 (1852) thì Quảng Nam - Đà Nẵng có địa bàn tượng tự như thành phố Đà Nẵng hiện nay. Nói đến xứ Quảng hiện nay là chúng ta nói đến xứ Quảng ở địa bàn hẹp tương đương với vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng. Và như thế khi đặt vấn đề vai trò của Bài chòi trong đời sống văn hóa cộng đồng xứ Quảng là chúng ta tiếp cận xứ Quảng với phạm vi địa bàn Quảng Nam và Đà Nẵng ngày nay hoặc nói đúng hơn là thành phố Đà Nẵng mới hiện nay. Và trong không gian đấy, Bài Chòi xứ Quảng mang những đặc trưng riêng biệt so với Bài Chòi Bình Định hay Phú Yên. Sự khác biệt này nằm ở giọng điệu (thổ ngữ Quảng), làn điệu (sử dụng nhiều Hò khoan, Hát nhân ngãi hơn là chất Tuồng bi hùng của Bình Định) và phong cách diễn xướng (thiên về sự hóm hỉnh, ứng tác đời thường). Nếu Bài Chòi Bình Định chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Tuồng (Hát Bội) do đây là đất Tuồng, thì Bài Chòi xứ Quảng lại mang đậm chất trữ tình của các điệu hò sông nước (sông Thu Bồn, Vu Gia).

Để thực hiện chuyên đề nghiên cứu này, chúng ta cần tiếp cận dưới góc nhìn đa chiều:

Thứ nhất tiếp cận dưới góc độ Trò chơi học để phân tích cơ chế vận hành, tính ngẫu nhiên và yếu tố giải trí.

Thứ hai: tiếp cận dưới góc độ Dân tộc nhạc học: Phân tích các làn điệu, lời hô và vai trò của âm nhạc.

Thứ ba: tiếp cận dưới góc độ Xã hội học văn hóa: Phân tích chức năng cố kết cộng đồng và bảo tồn bản sắc.

Và dưới các góc độ đa chiều đó, vai trò của Bài chòi đã được thể hiện trong nhiều mặt của đời sống người dân xứ Quảng như:

         1. Vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí

Theo hồ sơ đệ trình UNESCO và các nghiên cứu chính thống, Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ là một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Nó là sự kết hợp biện chứng giữa các thành tố: Âm nhạc, Thơ ca, Diễn xuất, Hội họa và Văn học dân gian. Khác với các loại hình diễn xướng thính phòng, Bài Chòi sinh ra và tồn tại trong không gian làng xã. Thuật ngữ “Nghệ thuật Bài Chòi” và “Bài Chòi dân gian” thường được sử dụng thay thế cho nhau, phản ánh bản chất kép của di sản này:

Phần “Bài”: Yếu tố trò chơi thẻ bài, chịu ảnh hưởng từ trò chơi Tổ Tôm, Tam Cúc nhưng được bản địa hóa triệt để.

Phần “Chòi”: Không gian kiến trúc tạm thời nhưng mang tính biểu tượng, nơi diễn ra hoạt động.

Vì vậy, vai trò đầu tiên, dễ nhận biết nhất của Bài chòi trong đời sống cộng đồng của người dân là vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí. Tên gọi Bài chòi hoặc chơi Bài chòi cũng cho ta thấy được chức năng vui chơi giải trí này của Bài chòi. Tuy nhiên đây không phải là trò chơi thông thường, trò chơi thiên về ăn thua, bài bạc mà là một trò chơi mang tính nghệ thuật, là một loại trò chơi có sự kết hợp của nhiều thành tố văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, diễn xướng, văn học dân gian… Có thể ban đầu đây chỉ là trò chơi đơn thuần như bao trò chơi khác. Dần dà các cộng đồng dân cư tại chỗ đã dung nạp, kết hợp kể cả sáng tạo nên những thành tố văn hóa nghệ thuật khác nhau để hình thành nên trò chơi, trò diễn Bài chòi đặc sắc truyền lại cho đến ngày nay. Các tác giả Hoàng Chương, Nguyễn Có đã có nhận xét xác đáng về chức năng vui chơi giải trí này của Bài chòi: “Bài chòi là một trò chơi vui xuân mang đậm tính tập thể và tính dân gian. Tuy trong cuộc chơi có tổ chức ăn tiền nhưng cái cốt lõi là để mua vui… Người tham gia “đánh Bài chòi” là tham gia sinh hoạt văn hóa, tham gia trò diễn xướng dân gian mang tính sân khấu rõ nét…”

Vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của cộng đồng này của Bài chòi thể hiện rõ nhất trong các dịp hội hè, lễ Tết, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán. Vào dịp này hầu như làng xã nào cũng tổ chức hội Bài chòi và Bài chòi trở thành là một trò chơi giải trí đầu năm gắn với những ước mong về những điều hanh thông, tốt đẹp trong dịp năm mới. Ở đây, Bài Chòi không còn là trò chơi theo nghĩa phương Tây, mà là nghi thức. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, ranh giới giữa chơi và thờ cúng rất mong manh. Việc tham gia hội Bài Chòi đầu xuân thực chất là một hành vi “đánh cược với số phận” trong một không gian thiêng (đình làng, dịp Tết). Người nông dân thông qua sự may rủi của con bài để trắc nghiệm vận mệnh của mình trong năm mới. Do đó, ngoài tính “giải trí”, Bài chòi còn là một cách trấn an tinh thần cho cộng đồng trước thiên nhiên bất định. Vì vậy trong những hội chơi Bài chòi đầu năm mới người ta thường không đưa vào các con bài có thể liên tưởng đến những điều không tốt như ông ầm, thái tử, đỏ mỏ. Ông ầm có thể liên tưởng đến té ngã “Đang ngồi bực lỡ buông câu, Bổng đâu té xuống vực sâu cái ầm”. Thái tử vì có từ “tử” không tốt. Đỏ mỏ là từ dân gian chỉ những người hay cãi cọ, gây gỗ. Đây là những con bài có tên gợi liên tưởng đến những điều kiêng cữ đầu năm nên người ta tránh đi.

Bảng phân tích cấu trúc biểu tượng các con bài bị kiêng kỵ trong Bài Chòi xứ Quảng

Tên con bài

Nghĩa đen/Hình ảnh

Nghĩa biểu tượng (Dân gian liên tưởng)

Cơ chế Kiêng kỵ (Phân tích Khoa học)

Ông Ầm

Người té ngã

Tai nạn, rủi ro, sự sụp đổ

Mô phỏng tượng hình: Nỗi sợ về sự mất an toàn vật lý trong lao động nông nghiệp.

Thái Tử

Con vua

Chết chóc (do từ “Tử”)

Đồng âm khác nghĩa: Sự chi phối của yếu tố Hán-Việt trong tâm thức sợ cái chết.

Đỏ Mỏ

Mỏ (miệng) đỏ

Cãi vã, thị phi, bất hòa

Hoán dụ: Cái miệng là nguồn gốc tai họa (“Họa tòng khẩu xuất”). Ước vọng hòa hợp xóm làng.

 

Tính chất vui chơi giải trí lành mạnh của Bài chòi còn được thể hiện ở chỗ đây không phải là trò chơi hơn thua, sát phạt. Đây là một trong những đặc điểm cốt lõi làm nên giá trị của Bài Chòi chính là sự chuyển hóa từ tính chất “sát phạt” của cờ bạc sang tính chất “thưởng thức” của nghệ thuật. Trong hồ sơ UNESCO đã xác định: “Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sự hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu”. Sự chuyển hóa này diễn ra thông qua vai trò của “Anh Hiệu”, “Chị Hiệu” (người hô thai). Nếu trong các trò chơi bài lá thông thường, việc xướng tên con bài chỉ mang tính thông báo, thì trong Bài Chòi, việc xướng tên được nâng lên thành nghệ thuật. Người chơi không chỉ chờ đợi kết quả thắng thua, mà họ chờ đợi cách thức con bài xuất hiện thông qua lời ca tiếng hát.

Việc hơn thua về tiền bạc chỉ mang tính chất tượng trưng, lấy vui chơi làm gốc vì không có ai trở nên nghèo hơn, khổ hơn vì chơi Bài chòi mà như đã nói ở trên đây là trò chơi nhằm tìm kiếm niềm vui và sự may mắn đầu năm, nhằm thưởng thức hoạt động hô hát để hòa mình vào không khí náo nức, tươi mới của mùa xuân năm mới.

          2. Vai trò thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa

Hưởng thụ và sáng tạo văn hóa là nhu cầu cơ bản, cốt lõi của con người, tuy hai nhưng là một. Hưởng thụ nhưng đồng thời cũng luôn tìm tòi, sáng tạo để làm cho việc hưởng thụ ngày càng nâng cao hơn, để đời sống ngày càng phong phú, đa dạng hơn, mang “tính người hơn”. Đây là quá trình phát triển không ngừng nghỉ để con người ngày càng hoàn thiện và mang tính nhân văn ngày càng cao. Ở khía cạnh này ta thấy rằng Bài chòi là một hoạt động tổng hợp nhiều thành tố từ vui chơi giải trí đến văn hóa nghệ thuật giúp con người tìm thấy ở đây một môi trường, một hoàn cảnh để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng.

Giống như những cộng đồng chủ thể ở các vùng miền khác trong cả nước, cộng đồng chủ thể văn hóa xứ Quảng vốn gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, vì vậy cả năm quần quật với hoạt động cày cấy, chăm sóc ruộng đồng, vườn tược hoặc bận rộn với các công việc chăn nuôi gia súc, thủ công gắn với nông nghiệp. Công việc đồng áng chỉ được tạm nghĩ vào các ngày lễ tết, hội hè hàng năm. Đây cũng là dịp để cá nhân, cộng đồng nghỉ ngơi vui chơi, hưởng thụ văn hóa theo tập quán “tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Và hơn ở đâu hết Bài chòi chính là nơi để mọi người gặp gỡ, vui chơi và hưởng thụ văn hóa. Đến với Bài chòi, cùng với việc vui chơi giải trí, từng cá nhân và cộng đồng còn được thưởng thức những lời hô hát, những làn điệu dân ca mượt mà, dân dã những động tác vui nhộn, hoạt kê được anh Hiệu diễn xuất điêu luyện, sáng tạo. Đối với anh Hiệu, quá trình hô hát, biểu diễn cũng là quá trình tích lũy kinh nghiệm, cảm xúc để ứng tác, ứng diễn nên những lời hát, làn điệu mới, động tác mới hoặc những biến tấu về nghệ thuật nội dung hô hát, diễn xuất. 

Đối với người chơi, quá trình thưởng thức đồng thời là quá trình thu nhận, dung nạp hình tượng, xúc cảm làm tư liệu để ứng tác nên những câu thơ ca hò vè mới trong sinh hoạt cộng đồng, trong các dịp hát hò khoan đối đáp, hò giã vôi, giã gạo, chèo thuyền… Một số câu hát trong các dịp này đã được sử dụng để hô các con bài trong Bài chòi. Chúng ta có thể thấy được quá trình tương tác này qua một số trường hợp sau. Đây là câu hát chia cách trong hát hò khoan được dùng để hô con Nọc thược:

“Nghĩ gia đình tôi xa bôn xa bức

Đấm ngực rồi lại sang tay

Anh đi ra dặn em ở nhà

Cùng ngôn tận lý em nghĩ mà nuôi con

Anh đi ra cách núi lìa non

Bữa ăn miếng ngọt miếng ngon lo cho cha mẹ chồng

Bạc tháng em lãnh ba đồng

Ruộng thổ phần thuê mướn nuôi công cho chàng

Ngày nay nhà nước giặc an

Cho anh phản bộ về làng nghỉ ngơi

Anh về vừa mới tới nơi

Nghe cha mẹ nói mấy nhiêu lời xót xa

Em đi đâu bỏ mẹ bỏ cha

Bỏ con chiu chít vậy mà em theo trai

Năm ngoái em có đậu thai

Em uống thuốc em phá thiên hạ người ngoài đều hay

Năm ngoái chí những năm nay

Ban đêm em ngủ đổ ban ngày em ngủ lang

Phải chi anh bỏ xứ anh đi hoang

Em ở nhà em làm vậy cũng không oan tấm tình

Ngày rày xuất ngũ hành binh

Đầu tên mũi đạn em ở nhà em lãnh bạc tháng em xin ăn

Phải chi thời em thủ bổn thủ căn

Ngày em buôn tần bán tảo tối em băn khoăn nhớ chồng

Em đi đâu bỏ cửa nhà không

Mê say trai gái em lấy bạc đồng em cho

Động trong nhà em ra ngoài ngõ

Động xóm dưới thì em mò lên xóm trên

Tội em có giết cũng nên

Có đâm cũng đáng đừng có trách chàng sao đành đoạn không thương

Bớ em ơi em ở làm vầy bất hiếu bất lương

Nọc ra mà đánh tan xương cũng đành”

(Con Nọc thược)

Bài hô “Con Nọc Thược” là một kiệt tác của văn học dân gian xứ Quảng, phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc và tâm lý phức tạp của người phụ nữ.

Bối cảnh xã hội: “Ngày nay nhà nước giặc an/ Cho anh phản bộ về làng nghỉ ngơi”. Câu hát xác lập bối cảnh hậu chiến, người lính trở về. Điều này cho thấy Bài Chòi không đóng băng trong quá khứ mà liên tục cập nhật hơi thở thời đại.

Ngôn ngữ và Tâm lý: Tác giả sử dụng các từ láy đặc trưng phương ngữ Quảng Nam: “xa bôn xa bức”, “chiu chít”. “Xa bôn xa bức” không chỉ là xa về khoảng cách mà còn gợi sự bế tắc, mù mịt.

Lời biện minh của người vợ ngoại tình: “Phải chi anh bỏ xứ anh đi hoang/ Em ở nhà em làm vậy cũng không oan tấm tình”. Đây là một lập luận pháp lý đầy tính nhân bản. Người vợ không chối tội (“Năm ngoái em có đậu thai/ Em uống thuốc em phá...”), nhưng cô biện minh bằng hoàn cảnh kinh tế (“Bạc tháng em lãnh ba đồng”) và sự vắng mặt của người chồng.

Sự va đập của các giá trị: Bài hô kết thúc bằng sự trừng phạt tàn khốc: “Nọc ra mà đánh tan xương cũng đành”. Cái kết này thỏa mãn luân lý Nho giáo (trừng phạt kẻ bất chính), nhưng toàn bộ phần trước đó lại là tiếng nói cảm thông cho thân phận người phụ nữ cô đơn.

Sự sáng tạo ở đây không chỉ là gieo vần, mà là sự dũng cảm nhìn thẳng vào các bi kịch gia đình và đưa nó lên sân khấu dân gian. Bài Chòi là sân khấu của người bình dân. Ở đó, những góc khuất của xã hội (ngoại tình, đói nghèo, chiến tranh) được phơi bày trần trụi, phá vỡ sự im lặng giả tạo của lễ giáo phong kiến.

Đây là câu hát sinh tử trong hò khoan được dùng để hô con Chín gối:

“Tay bên tả chàng bưng siêu thuốc Bắc

Tay bên hữu chàng bợ lấy lò than

Bước lên cửa bệ vén mùng loan

Thấy em thất sắc hai hàng lệ rơi

Giậm chân xuống đất kêu trời

Ai làm cho thiếp đổi hồn dời âm ty

Rồi đây chàng phải chịu tang chế một khi cửa buồng

Về nhà treo bức liễn vuông

Treo lên rớt xuống lụy tuôn hai hàng

Ai làm cho thiếp thác xuống suối vàng

Ngọn hương ngọn khói bỏ mình chàng bơ vơ

Đêm năm canh đáo đến giường thờ

Khăn thì lau nước mắt tay rờ ngọn nhang

Một mình chàng than thở thở than

Bỏ gối nghiêng nệm chích phòng loan một mình”

(Con Chín gối)

 

Bài hô “Con Chín Gối”  mô tả cảnh tang chế chi tiết đến rợn người: Hình ảnh: “siêu thuốc Bắc”, “lò than”, “vén mùng loan”, “bức liễn vuông”, “ngọn nhang”. Đây là những vật dụng mang tính biểu tượng cao trong nghi thức tang lễ của người Việt miền Trung.

Cảm xúc: “Giậm chân xuống đất kêu trời/ Ai làm cho thiếp đổi hồn dời âm ty”. 

Thủ pháp nghệ thuật: Từ “gối” trong câu cuối được dùng để bắt vần sang con bài “Chín Gối”.

 Tiếng khóc than ai oán này được trình diễn giữa tiếng trống hội rộn ràng tạo nên một hiệu ứng thẩm mỹ tương phản mạnh mẽ. Chính sự tương phản này làm nên sức hấp dẫn của nghệ thuật Bài Chòi: Nó là sự tổng hòa của Hỉ - Nộ - Ái - Ố, không đơn điệu một chiều. 

Xét về một tầng ý nghĩa sâu xa khác, những câu hô hát này mang tính chất thanh lọc” nghe về nỗi đau của người khác (trong nghệ thuật) giúp người xem giải tỏa những ẩn ức, lo âu của chính mình. Sự bi thương trong lời hô con “Chín Gố” không làm người nghe buồn đi, mà làm họ trân trọng hơn sự sum họp hiện tại. Đây là ví dụ điển hình cho thấy Bài Chòi có khả năng chạm đến những cung bậc cảm xúc sâu lắng nhất của con người, khơi dậy lòng trắc ẩn và tôn vinh các giá trị đạo đức truyền thống.

        3. Vai trò giao tiếp, cố kết cộng đồng

Đây là vai trò làm nên sức sống bền vững, sức thu hút mạnh mẽ đồng thời cũng là thành tố tạo nên giá trị độc đáo, riêng có của trò chơi- nghệ thuật Bài chòi. Người dân xứ Quảng tìm đến với Bài chòi không chỉ để vui chơi giải trí, để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa mà sâu xa hơn, tiên quyết hơn, họ đến với Bài chòi để thực hiện, thể hiện nhu cầu giao tiếp, cố kết cộng đồng. Vai trò này thể hiện qua các khâu chuẩn bị tổ chức, tham gia vui chơi và kết thúc hội Bài chòi hàng năm. Những ngày cuối tháng chạp, cùng với việc chuẩn bị Tết cho cá nhân, gia đình, những thành viên của xóm làng còn tham gia các công việc chung như dọn dẹp đường sá, trang trí, bài trí đình làng cùng các di tích tín ngưỡng của cộng đồng, trong đó có việc chuẩn bị mặt bằng, vật liệu cho hội chơi Bài chòi:

“Vợ lo nếp lá đậu mè

Chồng lo mài rựa chặt tre dựng chòi”

Trong sự phân công lo việc Tết này ta thấy người chồng - người đàn ông trong gia đình còn đảm nhận thêm một công việc đó là chuẩn bị vật liệu cho việc dựng các chòi cho hội Bài chòi của cộng đồng. Công việc này diễn ra vào dịp giáp Tết hàng năm và đây cũng là dịp để giao tiếp và cố kết cộng đồng, thắt chặt tình làng nghĩa xóm thông qua hoạt động chuẩn bị vui chơi ngày Tết. Kẻ góp của người góp công, người cho mượn phương tiện, vật liệu,… mọi việc diễn ra một cách tự nguyện tạo thành một mối quan hệ cố kết cộng đồng chặt chẽ.

Theo một góc nhìn khoa học quy trình chuẩn bị như một khế ước xã hội. Đây là sự phân công lao động theo giới “Vợ lo nếp lá đậu mè/ Chồng lo mài rựa chặt tre dựng chòi”. Một cách phân chia điển hình trong xã hội nông nghiệp. Việc chuẩn bị cho hội Bài Chòi không chỉ là hậu cần, mà là quá trình tái khẳng định vai trò của từng thành viên trong cộng đồng. Và sự “tự nguyện”, “góp của góp công” chính là biểu hiện của Vốn xã hội. Hội Bài Chòi là dịp để tích lũy và kiểm kê nguồn vốn này. Một làng tổ chức được hội Bài Chòi lớn chứng tỏ làng đó đoàn kết, kinh tế vững mạnh.

Vai trò giao tiếp, cố kết cộng đồng này của Bài chòi cũng được thể hiện rõ nét trong lúc vui chơi. Khi hội Bài Chòi diễn ra, sân hội trở thành trung tâm giao tiếp của làng xã.

- Giao tiếp liên thế hệ: Người già truyền đạt kinh nghiệm, tích tuồng cho người trẻ.

- Giao tiếp liên gia đình: Các gia đình gặp gỡ, chúc Tết.

- Hòa giải mâu thuẫn: Không khí vui tươi, cởi mở của hội Bài Chòi giúp xóa nhòa những xích mích nhỏ nhặt trong năm cũ.

Tham gia chơi Bài Chòi cũng chính là tham gia một nghi thức chào hỏi đầu năm. Sự hiện diện tại hội Bài Chòi là cách để cá nhân khẳng định tư cách thành viên của mình trong cộng đồng làng xã. Tham gia chơi Bài chòi cũng chính là tham gia gặp mặt đầu năm để chúc Tết lẫn nhau, để gắn kết mối quan hệ bà con hàng xóm láng giềng cũng như quan hệ cộng đồng. Có thể nói Bài chòi là một hội vui xuân truyền thống ở đó các cá nhân có điều kiện, môi trường để gặp gỡ, giao tiếp cộng đồng qua đó tăng cường quan hệ cố kết cộng đồng một cách hiệu quả.

          4. Vai trò thể hiện và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng

Trước hết có thể thấy rằng cùng với “cây đa, bến nước, sân đình” thì hội Bài chòi ngày xuân đã góp phần khắc họa rõ nét bức tranh làng quê xứ Quảng vừa thanh bình, yên ả vừa sinh động, tràn đầy màu sắc vào những ngày lễ Tết. Sự có mặt của hội Bài chòi ở một sân đình, một bến sông, một góc phố với những chiếc chòi tranh tre dân dã, xinh xắn, với những lá cờ hội phất phới, những tiếng trống điểm nhịp rộn ràng, những người vào ra tấp nập trong trang phục mới tinh, trong tiếng chào hỏi, chúc Tết rộn rã… ngày Tết của địa phương trở nên rạng rỡ, sinh động, tràn đầy sức sống, sắc xuân. Có lẽ vì vậy mà có một giai đoạn hội Bài chòi bị gián đoạn ở nhiều địa phương, không khí ngày Tết ở đó bỗng trở nên thiếu vắng, đơn điệu.

Hội Bài chòi với những chiếc chòi con tranh tre, mây lá quây quần quanh các chòi cái tại một không gian công cộng nào đó của làng xã còn thể hiện một khung cảnh làng quê yên ả, một xã hội công xã nông thôn với sự cộng cư của nhiều gia đình xung quanh một thiết chế chung của cộng đồng. Cấu trúc này mô phỏng cấu trúc của làng xã Việt Nam (Nhà dân quây quần quanh Đình làng/Nhà rông). Trong Bài Chòi, sự tương tác không chỉ là một chiều từ Anh Hiệu xuống khán giả, mà còn là sự tương tác ngang giữa các Chòi Con với nhau (chúc tụng, trêu ghẹo). Không gian này phá vỡ sự biệt lập của các gia đình, tạo ra một không gian công cộng thực sự, nơi mọi người bình đẳng trong cuộc chơi. Cờ hội phất phới, tiếng trống chầu, tiếng đàn nhị, tiếng hô thai... tất cả tạo nên một “hệ sinh thái văn hóa” đậm chất Quảng.

Dưới khía cạnh bảo tồn, Bài chòi là một hoạt động lưu giữ, bảo tồn nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể từ ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian đến tri thức dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng. Các loại hình này được thực hành, lưu truyền qua việc hô hát của anh Hiệu, qua kỹ thuật dựng, trang trí các chòi và khu vực hội Bài chòi, qua việc in các con bài, qua các tập tục, tín ngưỡng liên quan đến trò chơi Bài chòi. Đây chính là hình thức bảo tồn thông qua cộng đồng dân cư tại chỗ, một dạng thức của bảo tàng sống.

Bài Chòi đóng vai trò như một kho lưu trữ sống động và an toàn cho các giá trị văn hóa phi vật thể khác. Thông qua hoạt động hô hát và diễn xướng, Bài Chòi bảo tồn:

- Phương ngữ: Tiếng Quảng Nam với những từ vựng, ngữ điệu đặc trưng được lưu giữ nguyên vẹn trong lời hô.

- Kho tàng văn học dân gian: Ca dao, tục ngữ, hò vè được “sống” lại trong môi trường diễn xướng, tránh nguy cơ mai một trên văn bản giấy.

- Nghệ thuật tạo hình: Kỹ thuật làm thẻ bài (khắc gỗ, in ấn), kỹ thuật dựng chòi tre, trang trí cờ phướn.

- Tín ngưỡng dân gian: Các nghi thức cúng Hiệu, cúng Tổ nghề trước khi mở hội.

Hội Bài chòi là hình thức bảo tồn “tại chỗ” hiệu quả nhất, nơi di sản được nuôi dưỡng bởi chính cộng đồng chủ thể.

        5. Vai trò phổ biến và giao lưu văn hóa

Đây là vai trò, chức năng mới của trò chơi Bài chòi. Thực tế cho thấy tại xứ Quảng cũng như tại những địa phương ở miền Trung, có một giai đoạn trò chơi Bài chòi bỗng dưng bị trầm lắng và có nguy cơ mai một. Sau những cố gắng của ngành văn hóa, của các nhà chuyên môn và của cộng đồng cộng với những cơ hội mới khi mà lễ hội được phục hồi, hoạt động du lịch được phát triển, gần đây Bài chòi lại được phục hồi ở nhiều địa phương xứ Quảng. Năm 1998, Hội An đưa Bài chòi vào trình diễn ở hoạt động Đêm phố cổ hàng tháng. Đây là bước ngoặt chuyển đổi Bài Chòi từ một sinh hoạt thời vụ (chỉ dịp Tết) thành một sản phẩm văn hóa thường xuyên phục vụ du lịch. Mô hình này đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Nhiều địa phương của xứ Quảng cũng đã phục hồi trò chơi Bài chòi trong các dịp lễ hội lớn, các ngày hội văn hóa, các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của địa phương và đất nước. Bài chòi đã được mang đi giới thiệu trình diễn tại một số địa phương trong nước vào các ngày hội văn hóa của các địa phương ngoài tỉnh. Bài chòi cũng đã được mang đi trình diễn ở 7 quốc gia, vùng lãnh thổ qua đó góp phần giới thiệu những nét đặc sắc của Bài chòi ra nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng giao lưu văn hóa trên phạm vi quốc tế. Bài chòi không còn bó hẹp trong không gian làng xã mà đã trở thành đại sứ văn hóa. Thông qua Bài Chòi, bạn bè quốc tế hiểu thêm về tính cách con người miền Trung: lạc quan, hóm hỉnh, trọng tình nghĩa và đầy tài hoa.

Với những giá trị vốn có, sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, lập hồ sơ đệ trình, đến ngày 7/12/2017, nghệ thuật Bài chòi miền Trung đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, góp phần phổ biến ra thế giới một loại hình trò chơi - trò diễn xướng dân gian đặc sắc, độc đáo của xứ Quảng nói riêng, miền Trung nói chung.

Kết luận

Bài chòi là một trò chơi và là một loại hình nghệ thuật dân gian đa thành tố văn hóa nghệ thuật, hình thành từ lâu đời, gắn bó chặt chẽ với đời sống của người dân ở các xóm thôn, làng bản từ miền ngược cho đến miền xuôi của xứ Quảng. Tuy có một số biến đổi so với truyền thống nhưng đến nay Bài chòi vẫn chưa mất đi sức thu hút thể hiện ở chỗ Bài chòi đã có mặt trở lại tại nhiều địa phương của xứ Quảng.

Hiện nay chính quyền địa phương đã ban hành Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019 - 2025 với nhiều biện pháp, chính sách cụ thể. Trước mắt đã tổ chức các lớp tập huấn truyền dạy, bồi dưỡng kỹ năng thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi cho các nghệ nhân, câu lạc bộ, nhóm, những người có khả năng tiếp thu và thực hành di sản Bài chòi. Vấn đề khó nhất hiện nay là làm sao tìm lại, xây dựng cho được một đội ngũ công chúng yêu thích, hâm mộ, tâm huyết với nghệ thuật Bài chòi. Bởi vì điều này sẽ quyết định sự sống còn của Bài chòi. Muốn làm được điều này, cùng với việc tuyên truyền, quảng bá về các giá trị độc đáo của Bài chòi, việc phục hồi mẫu và phục hồi rộng rãi, trong điều kiện hiện nay bên cạnh việc giữ gìn, bảo tồn các yếu tốc gốc, yếu tố truyền thống cốt lõi của Bài chòi chúng ta cũng cần phải dung nạp những yếu tố mới gắn với khoa học công nghệ, với kỹ thuật hiện đại để tăng cường sức hấp dẫn cho nghệ thuật Bài chòi, đáp ứng được thị hiếu của công chúng hiện nay.

 

* Tài liệu tham khảo:

      1. Nhiều tác giả (2023), Di sản Bài chòi xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng.

      2. Hồ sơ đề cử UNESCO (2017), Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

     3. Website Cục Di sản văn hóa (2017). Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nguồn: https://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-bai-choi-trung-bo-viet-nam-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1535

    4. UBND tỉnh Quảng Nam (2018), Kế hoạch số 6202/KH-UBND ngày 30/8/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam.

Báo cáo chuyên đề nghệ thuật trình diễn bài Chòi: Hình thức, kỹ thuật và phong cách

Báo cáo chuyên đề nghệ thuật trình diễn bài Chòi: Hình thức, kỹ thuật và phong cách

NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN BÀI CHÒI: HÌNH THỨC, KỸ THUẬT VÀ PHONG CÁCH

Nguyễn Văn Quý

Trung tâm Bảo tồn di sản thế giới Hội An

 

Nếu ai đã từng một lần đứng giữa làng quê miền Trung, trước những mái chòi tre lợp lá, nghe tiếng gõ đúng nhịp, tiếng trống rộn vang, rồi tiếng anh hiệu cất lên “Bà con cô bác lắng lặng mà nghe…là tôi hô con bài… con gì nó ra đây!”, hẳn sẽ không thể nào quên cái cảm giác rạo rực chạy suốt sống lưng - như nghe tiếng gọi của tổ tiên vọng về. Bài chòi là thế: mộc mạc, dân dã, không ồn ào phô trương mà thấm vào lòng người từng chút một, như mưa rơi trên cát khô, như gió thổi qua rặng phi lao, để rồi càng xa càng nhớ, càng nghe càng thương.

Là người lớn lên bên những phiên hội làng ở Quảng Nam, rồi về sống giữa phố cổ Hội An, rong ruổi gần hai mươi năm theo chân những bậc nghệ nhân lão luyện, tôi càng day dứt hơn bao giờ hết trước vẻ đẹp độc đáo của Bài chòi - một loại hình nghệ thuật hội tụ đủ duyên dáng dân gian, trí tuệ ứng tác, tinh thần lạc quan và bản lĩnh sống của cư dân miền Trung. Nghĩ về Bài chòi, tôi luôn hình dung đến hình ảnh người nông dân năm xưa - vai đeo cuốc, chân dính bùn, nhưng miệng luôn sẵn câu thai dí dỏm, tay luôn sẵn chiếc thẻ bài để vào hội. Bài chòi không chỉ là cuộc vui đầu xuân, mà còn là “một bảo tàng sống”, nơi chất chứa cả hồn vía một vùng đất chịu thương chịu khó mà vẫn tươi sáng trước cuộc đời.

Bài chòi không ra đời trong cung đình, không xuất phát từ những “ông tổ nghề” cụ thể, mà sự hình thành của Bài Chòi có mối liên hệ mật thiết với công cuộc khai hoang lập ấp và bảo vệ lãnh thổ của cư dân Đàng Trong dưới thời Chúa Nguyễn. Thế kỷ XVI-XVII là giai đoạn người Việt di cư mạnh mẽ vào vùng Thuận - Quảng. Tại đây, họ đối mặt với hai thách thức lớn: thiên nhiên khắc nghiệt (thú dữ) và nhu cầu an ninh phòng thủ. Theo đó, các chòi canh (vọng gác) được dựng lên cao để nông dân hoặc binh lính quan sát thú dữ phá hoại mùa màng hoặc cảnh giới kẻ địch. Để chống lại cơn buồn ngủ và sự cô độc trong đêm tối, những người canh gác trên các chòi cao đã sáng tạo ra cách hô đáp, đối đáp lẫn nhau bằng thơ ca hò vè. Sự giao tiếp này dần phát triển thành một hệ thống các câu hô, và khi kết hợp với bộ thẻ bài (được cải biên từ Tổ Tôm, Tam Cúc mang theo từ Đàng Ngoài), nó chuyển hóa thành trò chơi giải trí. Bài Chòi là sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, phục vụ mục đích sinh tồn và cố kết cộng đồng cụ thể. Theo bước chân người Việt vào Thuận – Quảng mở đất cùng những kỹ thuật ngâm – lý – hò – vè của quê cũ, rồi kết hợp với khí hậu khắc nghiệt và tâm lý lạc quan của cư dân miền Trung, thế là Bài chòi thành hình: vừa là trò chơi, vừa là tiếng hát, vừa là cách để làng xóm sum vầy. Người miền Trung làm gì cũng trọng nghĩa tình, nên Bài chòi vừa vui mà vừa dạy, vừa chơi mà vừa trao truyền kinh nghiệm sống. Câu thai nào cũng có ý tứ, lời nào cũng có nghĩa, cười đó nhưng sâu sắc đó.

Ngày nay đứng nhìn lại, ta càng hiểu vì sao UNESCO vinh danh Nghệ thuật Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bởi Bài chòi thực sự độc đáo: không có nơi nào mà trò chơi, âm nhạc, kể chuyện, ứng tác và giao lưu cộng đồng hòa quyện vào nhau đến vậy. Đây không chỉ là “loại hình nghệ thuật”, mà còn là “phương thức sống”- cách người miền Trung kết bạn với nhau, nối lòng với nhau, vỗ về nhau sau những mùa bão lũ.

Muốn hiểu về Bài chòi, cần phải đi sâu vào phân tích ba điểm cốt lõi làm nên linh hồn của nó: 

1. Hình thức trình diễn: Phân tích cấu trúc không gian, sự tích hợp các loại hình nghệ thuật và mô hình tổ chức.

2. Kỹ thuật diễn xướng: Đi sâu vào hệ thống ngữ âm (Ngâm – Hô – Hát), cấu trúc âm nhạc và kỹ thuật biểu diễn của nghệ nhân.

3. Phong cách nghệ thuật: So sánh các biến thể vùng miền (Bình Định, Quảng Nam, Huế) và định hình vai trò của nghệ nhân (Anh Hiệu) trong việc kiến tạo phong cách. 

Hình thức trình diễn độc đáo, ngữ điệu pha trộn ngâm - hô - hát, và phong cách nghệ nhân - những “người giữ lửa” quyết định sự thăng hoa của cuộc hội. Ba yếu tố này đan cài vào nhau như ba sợi dây bện thành một sợi thừng chắc, giúp Bài chòi vượt qua thời gian, biến đổi theo xã hội mà vẫn giữ nguyên hồn cốt. Bài Chòi là một loại hình “diễn xướng tổng hợp”. Nó không thể bị bó hẹp trong các định nghĩa đơn lẻ như “âm nhạc”, “thơ ca” hay “trò chơi”. Dữ liệu từ các nghiên cứu cho thấy sự đan xen hữu cơ giữa các yếu tố:

Văn học: Hệ thống lời thai, ca dao, tục ngữ.

Âm nhạc: Các làn điệu dân ca, hô, lý, hò.

Mỹ thuật: Nghệ thuật vẽ con bài trên thẻ tre, trang trí chòi.

Sân khấu: Kỹ thuật diễn xuất, điệu bộ của anh Hiệu.

Trò chơi: Yếu tố may rủi, cá cược mang tính giải trí.

Sự tổng hợp này tạo nên tính linh hoạt tuyệt đối cho Bài Chòi. Nó có thể tồn tại dưới dạng một trò chơi dân gian dịp Tết (Hội chơi Bài Chòi) hoặc chuyển mình thành một vở kịch hát quy mô trên sân khấu (Ca kịch Bài Chòi). Khả năng chuyển hóa hình thức này chính là chìa khóa giúp Bài Chòi sống sót qua các biến động lịch sử, từ xã hội phong kiến nông nghiệp đến xã hội hiện đại đô thị hóa.

Và để thấu hiểu nghệ thuật Bài Chòi, trước tiên cần định vị nó trong dòng chảy văn hóa của dải đất miền Trung, đặc biệt là vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng. Đây là vùng đất của sự giao thoa, nơi “đòn gánh” của hai đầu đất nước chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt nhưng cũng là nơi con người hình thành nên tính cách kiên cường, lạc quan và trào lộng. Bài Chòi, trong bản chất sâu xa nhất, là sự phản ứng nghệ thuật của người dân trước môi trường sống đó. Không giống như Đờn ca tài tử của miền Nam thiên về sự phóng khoáng, mượt mà trên sông nước, hay Dân ca Quan họ miền Bắc với sự tinh tế, khuôn phép của văn hóa làng xã Bắc Bộ 1, Bài Chòi mang trong mình cái “ngang tàng”, bộc trực và mặn mòi của gió biển và đất cày miền Trung.

Các dữ liệu so sánh cho thấy, nếu miền Bắc tự hào với các làn điệu chèo, miền Nam với cải lương, thì miền Trung khẳng định bản sắc qua Bài Chòi. Đây không chỉ là một sự phân chia về địa lý hành chính mà là sự phân hóa về phong cách thẩm mỹ. Bài Chòi xứ Quảng là sự kết tinh của nhu cầu giao tiếp cộng đồng, nơi tiếng cười và tiếng hát trở thành phương tiện để gắn kết các thành viên trong làng xã.

I. HƠI THỞ LÀNG XÓM TRONG KHÔNG GIAN TRÌNH DIỄN BÀI CHÒI

Bài chòi tồn tại nhờ không gian mở - thứ không gian mà bất cứ ai cũng có thể bước vào, góp tiếng cười, góp cái gật đầu, góp tiếng reo. Sân đình, sân chợ, bãi đất trước nhà rông hay góc đường làng là những nơi Bài chòi sống cùng cộng đồng. Những mái chòi dựng bằng tre nứa, lợp lá dừa, sắp xếp thành vòng tròn như vòng tay ôm của làng, còn anh hiệu thì đứng giữa—vừa là linh hồn, vừa là trung tâm kết nối.

Anh hiệu không chỉ “hô bài”, mà còn dẫn dắt, châm một mồi lửa nhỏ để cả sân hội bừng lên. Tiếng hô của anh hiệu- vang mà ấm, mạnh mà duyên - mở ra cả một thế giới của dân gian: tiếng võng đưa ầu ơ, tiếng người đi biển kéo nhịp chèo, tiếng trống lân rộn rã, tiếng hát lý trữ tình. Anh hiệu không có khuôn mẫu cố định: mỗi người một phong cách, mỗi đêm một màu. Và chính điều này khiến Bài chòi giàu sức sống đến vậy.

Có người nói, đến sân Bài chòi như vào “sân khấu tự nhiên nhất của đời sống”. Không có rào chắn giữa diễn viên và khán giả, không có ánh đèn sân khấu lung linh, không có màn nhung kéo lên kéo xuống. Tất cả diễn ra trên nền đất, dưới trời sao, giữa tiếng gió biển thổi qua những tàu lá. Người chơi, người hô, người xem- tất cả hòa vào một dòng chảy chung. Ai cũng có một vai, không ai đứng ngoài cuộc.

Ngày nay, các tỉnh duyên hải miền Trung vẫn giữ mô hình ấy nhưng được bổ sung ánh sáng, âm thanh, sân khấu hóa để phù hợp với công chúng lớn hơn. Dù vậy, điều cốt lõi không hề thay đổi: nghệ nhân vẫn là trung tâm, chứ không phải dàn dựng, không phải thiết bị kỹ thuật. Một đêm Bài chòi hay là đêm mà người nghệ nhân “điều khiển” cảm xúc khán giả bằng chính hơi thở của mình - một hơi thở mang chất biển mặn, chất nắng gió, chất lao động vất vả mà kiêu hãnh. 

Trong mỗi cuộc chơi, có thể không ai nhớ hết ai trúng bao nhiêu quân bài, nhưng chắc chắn người ta nhớ tiếng cười, nhớ câu nói dí dỏm, nhớ giọng hô “làm mê làng mê xóm”. Vì vậy, nói đến Bài chòi là nói đến ký ức cộng đồng - ký ức mà bao thế hệ người miền Trung vẫn giữ như giữ một phần tâm hồn mình.

II. NGỮ ĐIỆU BÀI CHÒI – TIẾNG HÁT VỪA DÂN DÃ VỪA NGHỆ THUẬT

Nếu nói hình thức trình diễn là khung xương, thì ngữ điệu chính là dòng máu chảy trong thân thể Bài chòi. Không có ngữ điệu đặc trưng ấy, Bài chòi chỉ còn là trò chơi rút thẻ. Chính cách ngâm – hô – hát độc đáo đã nâng Bài chòi lên hàng nghệ thuật.

Ngâm của Bài chòi mang hơi thở hò khoan, vè, lý- âm điệu mộc mạc nhưng vẫn rất trữ tình. Thường anh hiệu dùng ngâm để kể chuyện, dẫn người nghe đi qua những lát cắt đời sống: chuyện anh nông dân đi cày, chuyện cô gái làng thả vó, chuyện vợ chồng trẻ đón mùa trăng rằm. Người miền Trung vốn ưa kể bằng giọng ngâm, vì đó là cách chuyển tải tình cảm nhẹ nhàng mà thấm sâu.

Hô thai thì mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn. Đó là tiếng gọi vang giữa sân, vừa để khán giả biết quân bài, vừa để tạo nhịp cho cuộc chơi. Hô phải rõ chữ, bật hơi, giữ tiết tấu chắc, vừa mang tính âm nhạc vừa mang tính thông báo. Anh hiệu giỏi có thể hô một câu thai mà khiến cả sân rung lên tiếng reo. Hô thai chính là “điểm rơi cảm xúc” của Bài chòi.

Hát lại là chất mềm, chất tình. Thường sau mỗi màn hô thai, anh hiệu có thể hát vài câu ví, vài câu lý để khán giả thư giãn, để nối câu chuyện, để tạo nhịp chuyển. Âm sắc của hát trong Bài chòi gần gũi giọng dân ca Trung Bộ, có chút xao xuyến của lý con sáo, có chút thiết tha của hò mái nhì, có chút tinh nghịch của lý kéo chài.

Ba yếu tố ấy tạo nên lối diễn xướng “ba trong một”: nửa hát – nửa nói – nửa hô. Nghe tiếng Bài chòi là biết đang ở miền Trung, biết đang đứng giữa một sân hội rộn rã nhưng đậm chất quê. Và chính ngữ điệu này làm nên bản sắc của từng vùng:

  • Bình Định: mạnh mẽ, sân khấu, chắc nhịp, đầy khí phách.

  • Quảng Nam – Đà Nẵng: mộc mạc, duyên dáng, hài hước.

  • Huế: mềm mại, luyến láy như điệu Ca Huế trên sông Hương.

Mỗi vùng một màu, nhưng khi ghép lại thành Bài chòi Trung Bộ thì đó là bản đồ âm thanh phong phú đến kỳ lạ - không lẫn với bất cứ nơi nào trên thế giới.

III. HỆ THỐNG ÂM NHẠC VÀ LÀN ĐIỆU ĐẶC TRƯNG

Âm nhạc Bài Chòi là sự tổng hợp của nhiều nguồn dân ca miền Trung, nhưng khi lên sân khấu ca kịch, nó được quy chuẩn hóa thành các nhóm làn điệu chính để phục vụ việc xây dựng tính cách nhân vật và tình huống kịch. Dựa trên dữ liệu và phân tích chuyên môn, ta có thể phân loại:

Phân loại và Chức năng các Làn điệu Bài Chòi

Tên Làn điệu

Đặc điểm Âm nhạc

Chức năng Sân khấu/Diễn xướng

Xuân Nữ

Giai điệu buồn, ai oán, nhịp độ chậm, nhiều luyến láy mềm mại.

Dùng cho các đoạn bi kịch, than thân trách phận, độc thoại nội tâm của nhân vật nữ hoặc cảnh chia ly.

Xàng Xê

Âm hưởng trang trọng, hùng tráng, tiết tấu dứt khoát, mạnh mẽ.

Dùng cho các nhân vật nam, các cảnh đối chất, tranh luận, hoặc cao trào kịch tính.

Hồ Quảng

Chịu ảnh hưởng của nhạc kịch Trung Hoa, giai điệu tươi vui, nhộn nhịp.

Dùng cho các cảnh cung đình, hội hè, cảnh thần tiên hoặc những tình huống hài hước, nhẹ nhàng.

Cổ Bản

Mang sắc thái kể chuyện, trầm lắng.

Dùng để dẫn chuyện, trần tình sự việc.

Lô Tô / Hò Vè

Tiết tấu nhanh, vui nhộn, mang tính đại chúng.

Thường dùng trong phần hội chơi hoặc các đoạn kết thúc vui vẻ.

Kỹ thuật Âm nhạc Bài Chòi

Bài Chòi Trung Bộ vận hành chủ yếu trên thang âm Ngũ cung (Pentatonic) nhưng có sự biến hóa tinh tế giữa các vùng (Local dialect nuances). Cần bổ sung bảng phân tích kỹ thuật như sau:

Hệ thống Hơi/Điệu

Đặc điểm Thang âm & Quãng 

Sắc thái biểu cảm & Ứng dụng

Đối sánh với tư liệu 

Hơi Bắc (Điệu Khách)

Sử dụng thang âm ngũ cung đúng, các quãng ổn định, ít luyến láy bán âm. Âm vực thường treo ở khu vực cao và trung.

Vui tươi, khỏe khoắn, dứt khoát. Thường dùng cho các nhân vật trào phúng, các đoạn hô mở đầu hoặc kết thúc có hậu.

Tương ứng với nhóm “Lô Tô / Hò Vè” và một phần “Hồ Quảng” được nhắc đến trong.

Hơi Nam (Điệu Ai)

Sử dụng thang âm ngũ cung có biến thể (Oán). Đặc trưng bởi quãng 3 non (minor third) và các nốt rung (vibrato), mổ (grace notes).

Buồn thương, bi lụy, nội tâm. Đặc tả sự chia ly, mất mát.

Chính xác hóa khái niệm “Xuân Nữ” trong là “Giai điệu buồn, ai oán”.

Hơi Xuân

Sự pha trộn giữa Bắc và Nam, tạo cảm giác bâng khuâng, day dứt nhưng không bi lụy hoàn toàn.

Diễn tả tâm trạng lưỡng lự, tình cảm đôi lứa, sự chuyển biến tâm lý.

Bổ sung cho nhóm “Cổ Bản” và các đoạn trữ tình.

 

Trong hệ thống Bài Chòi truyền thống, vai trò của dàn nhạc là tối quan trọng để nâng đỡ giọng hát anh Hiệu. Bộ nhạc cụ thường bao gồm:

  • Đàn Nhị (Đàn Cò): Nhạc cụ chủ đạo, không chỉ đệm (accompaniment) mà còn “bám” và “luồn” theo giọng hát anh Hiệu. Đàn Nhị trong Bài Chòi thường mô phỏng chính giọng người (vocal mimicry), tạo ra hiệu ứng “hai người cùng kể chuyện”.

  • Song Loan, Mõ, Trống: Bộ gõ giữ vai trò cốt yếu trong việc giữ nhịp (rhythm) cho câu thơ lục bát. Đóng vai trò “khung xương” về nhịp. Quan trọng hơn, tiếng Song Loan là tín hiệu điều khiển. Trong môi trường diễn xướng ngẫu hứng, tiếng “Cốp” của song loan báo hiệu việc ngắt câu, chuyển đoạn, giúp đồng bộ hóa giữa Anh Hiệu và dàn nhạc mà không cần văn bản nhạc.

  • Kèn Chiến: Tăng cường âm lượng và không khí lễ hội trong các đoạn cao trào.

Sự phối hợp giữa nhạc và lời trong Bài Chòi đạt đến trình độ “tuy hai mà một”. Nhạc công không chỉ đệm đàn mà còn phải hiểu ý anh Hiệu để “đố” và “hứng” kịp thời, đặc biệt trong những đoạn ngẫu hứng không có trong kịch bản.

Yếu tố cốt lõi văn học của Bài Chòi là thể thơ Lục bát và Lục bát biến thể. Lục bát biến thể: Đây là đặc trưng quan trọng phân biệt văn học dân gian miền Trung với miền Bắc. Nếu Lục bát miền Bắc thường tuân thủ chặt chẽ luật bằng trắc và số lượng âm tiết (6/8), thì Lục bát trong Bài Chòi cho phép “dôi chữ” để phù hợp với lối kể chuyện tự sự và phương ngữ. Ví dụ: Một câu lục bát thông thường có thể biến thành: “Chớ ổng đi đâu (mà) cái đầu trọc lóc / (Chớ) ổng không có tóc (thì) ổng mần răng ổng kẹp cái kẹp ba ngà” (Câu thai con Bạch Huê). Những từ trong ngoặc là từ đệm, từ đưa đẩy đặc trưng của diễn xướng.

Thủ pháp “Đố tục giảng thanh” cũng là một thủ pháp nghệ thuật dân gian nhằm giải tỏa ức chế xã hội và tính dục trong khuôn khổ lễ hội cho phép. Khi thực hiện thủ pháp này Anh Hiệu đưa ra những hình ảnh gợi dục, táo bạo trong câu hát đố, khiến khán giả đỏ mặt, tò mò, nhưng đáp án (tên con bài) lại hoàn toàn trong sáng, vô tri (như con bài Cái Nồi, Cái Ghế). Sự vỡ lẽ này tạo ra tiếng cười sảng khoái. Thủ pháp này không phải là sự dung tục, mà là biểu hiện của triết lý phồn thực và tinh thần dân chủ trong lễ hội, nơi những cấm kỵ hàng ngày được nới lỏng.

Đồng thời, trong nghệ thuật Bài chòi mang tính phương ngữ và Tính địa phương. Bài Chòi không thể hát bằng giọng Bắc chuẩn hay Nam chuẩn. Ngữ âm: Các phụ âm đầu, nguyên âm đôi đặc trưng của miền Trung (ví dụ: “về” thành “dề”, “sao” thành “shao”, “đâu” thành “đâu”) tạo nên màu sắc âm nhạc riêng biệt. Hệ thống từ cổ và từ địa phương được bảo lưu trong các câu thai là một kho tàng cho nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử.

IV. KỸ THUẬT DIỄN XƯỚNG VÀ VAI TRÒ CỐT LÕI CỦA NGHỆ NHÂN (ANH HIỆU)

Trong Bài chòi, nghệ nhân không chỉ là người “diễn” - họ là người kiến tạo. Không có nghệ nhân, Bài chòi không thể sống. Không có giọng hô, không có ứng tác, không có duyên của người dẫn, thì cuộc chơi cũng chỉ là những quân bài vô hồn.

Nghệ nhân Bài chòi là người đứng giữa sân mà không hề xa cách, là người nắm mạch cuộc vui, điều khiển cảm xúc cả trăm con người. Họ vừa là ca sĩ, vừa là diễn viên, vừa là người kể chuyện, vừa là người pha trò. Nghệ nhân giỏi không phải người thuộc nhiều thai nhất, mà là người khiến khán giả “cười cái đã rồi tính sau”, là người khiến bà con trong chòi trúng hay trật đều thấy vui.

Ứng tác là tài năng lớn nhất của nghệ nhân. Mọi thứ đến từ đời sống, từ kinh nghiệm quan sát từng người trong chòi, từng đứa trẻ chạy tung tăng, từng bà mẹ bồng con, từng ông lão chậm rãi chống gậy đi xem hội. Nghệ nhân “bắt sóng” đời sống mà ứng khẩu, sáng tạo ra câu thơ, câu hát ngay tại sân. Đó là chất “thơ dân gian sống”, không có văn bản cố định, chỉ có hơi người thật.

Có khi người nghệ nhân ngẫu hứng hát một câu:

“Rủ nhau đi hội bài chòi

Để cho con khóc mà lòi rún ra

Rún ra thì mắc rún ra

Phải chơi cho hết canh ba mới về”.

Hay khi nhìn trời đổ mưa, người nghệ cất giọng:

“Trời mưa ướt là trầu vàng

Ướt anh anh chịu ướt nàng anh thương

Trời mưa ướt lá trầu hương

Ướt em em chịu ướt người thương em sầu

Bao năm anh vui xới dây trầu

Cau nhà em đã lớn anh bắt đầu nhớ thương

Trầu với cau nghĩa nặng tình thương

Anh về thắt gióng gánh trầu hương sang nhà!”

Giọng nghệ nhân cũng là linh hồn. Mỗi người một giọng, không lẫn vào đâu. Có giọng đục mà ấm, có giọng sáng mà vang, có giọng khàn nhưng đầy tình. Cái hay là nghệ nhân biết dùng giọng của mình như dùng nhạc cụ: khi nào ngân cho thật mềm, khi nào bật cho thật chắc, khi nào kéo dài, khi nào dồn dập cho người chơi bất ngờ. Đó là kỹ năng “tung - thu” mà nghề chỉ truyền qua thực hành, không thể học trong sách.

Một cuộc Bài chòi thành công luôn có dấu ấn của nghệ nhân. Khán giả có thể quên tên quân bài hôm ấy, nhưng họ nhớ tiếng cười, nhớ ánh mắt, nhớ cái nháy duyên của anh hiệu. Chính nghệ nhân làm cho Bài chòi sống động từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Kỹ thuật “Hô thai” là độc chiêu của Bài Chòi. “Thai” nghĩa là đố. Khi rút một con bài, anh Hiệu không đọc tên ngay mà hát một đoạn thơ (câu thai) mô tả đặc điểm của con bài đó.

  • Cấu trúc gây tò mò: Lời hô thường lấp lửng, dùng lối nói lái, ẩn dụ hoặc điển tích. Khán giả (người chơi) phải lắng nghe, suy đoán. Sự hồi hộp chờ đợi câu trả lời chính là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn.

  • Phong cách hài hước, châm biếm: Phong cách chủ đạo của lời hô là sự hóm hỉnh, trào lộng. Đôi khi có những câu hô mang tính “tục” nhẹ nhàng (đố tục giảng thanh) để gây cười, phá vỡ sự căng thẳng.

  • Sự tương tác: Anh Hiệu liên tục di chuyển, giao lưu mắt, và dùng cử chỉ điệu bộ để lôi cuốn người chơi ở các chòi xung quanh.

Từ những phân tích trên cho thấy vai trò Anh Hiệu trong một hội chơi Bài chòi là phải thực hiện song song đa nhiệm: 

Quan sát: Quét mắt nhìn khán giả, nhận diện đối tượng (già, trẻ, nam, nữ, quan khách) để chọn nội dung hô phù hợp.

Sáng tạo tức thời: Lắp ghép các vốn liếng ca dao, tục ngữ có sẵn hoặc sáng tác mới câu thơ ngay tại chỗ (vận dụng vần, điệu) để trêu ghẹo hoặc chào mời.

Điều phối trò chơi: Theo dõi tiến trình rút thẻ, đảm bảo tính công bằng và nhịp độ của ván bài. Anh Hiệu không chỉ diễn cho khán giả xem, mà diễn cùng khán giả. Khán giả là một phần của vở diễn. Khi Anh Hiệu châm chọc một cô gái trong chòi, cô gái đó trở thành nhân vật phụ, và phản ứng của cô (cười, thẹn thùng, đáp trả) trở thành một phần của nội dung diễn xướng. Đây là đặc điểm của “Sân khấu tham dự”.

V. GIÁ TRỊ VĂN HÓA – TINH THẦN – NHÂN SINH TRONG BÀI CHÒI

Điều khiến Bài chòi đáng quý không chỉ ở nghệ thuật, mà còn ở giá trị văn hóa - xã hội. Bài chòi là bài học sống, là tinh thần lạc quan, là thông điệp nhân sinh mà người miền Trung gửi gắm trong câu thai.

Trong Bài chòi có đầy đủ mọi lát cắt cuộc đời: từ chuyện nông dân làm ruộng, ngư dân ra khơi, đến chuyện hiếu nghĩa gia đình, chuyện giữ gìn đạo đức. Câu thai đôi khi châm biếm thói hư tật xấu: kẻ lười biếng, người tham lam, kẻ khoe của. Nhưng châm biếm cũng để sửa mình, để cười rồi bỏ qua, để nhẹ lòng mà sống đẹp hơn.

Bài chòi còn là kho kinh nghiệm dân gian: làm nông phải coi mưa nắng, đi biển phải xem con nước, đối nhân xử thế phải biết thuận theo lòng người. Những điều ấy được gửi gắm nhẹ nhàng trong câu ví, dễ nghe mà cũng dễ thấm.

Không chỉ dạy, Bài chòi còn an ủi. Sau bao mùa lũ, bao năm đói kém, người miền Trung vẫn giữ Bài chòi như giữ một liều thuốc tinh thần. Câu hát giúp xua tan mệt mỏi, tiếng hô tạo niềm vui, tiếng cười kết nối bà con lại với nhau. Bởi vậy, người ta nói: “Ở đâu có Bài chòi, ở đó có làng quê hạnh phúc.”

VI. BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI – THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI

Thế kỷ XXI mang đến nhiều thay đổi. Lối sống nhanh hơn, công nghệ chi phối mạnh hơn, các hình thức giải trí đa dạng hơn. Điều ấy đặt Bài chòi trước thách thức lớn: làm sao giữ hồn cốt nhưng vẫn hòa vào dòng chảy mới của thời đại?

May thay, nhiều địa phương đã nhìn thấy giá trị quảng bá không thể thay thế của Bài chòi. Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Núi Thành, Duy Xuyên… đã phục dựng Bài chòi trong hoạt động du lịch, dịp tết, lễ hội, buổi diễn định kỳ. Khách du lịch nước ngoài rất thích thú - không chỉ vì âm nhạc, mà vì cách giao lưu đầy thân tình của nghệ nhân.

Nhưng đi kèm cơ hội là thách thức. Một số nơi sân khấu hóa quá đà, làm mất tính tự nhiên. Một số nơi dùng kịch bản cố định, khiến nghệ nhân mất cơ hội ứng tác. Một số nghệ nhân lớn tuổi dần vắng bóng, trong khi lớp trẻ còn ít người theo nghề.

Để Bài chòi sống bền, chúng ta cần:

  • Ghi âm - ghi hình hệ thống ngữ điệu của các nghệ nhân lớn tuổi.

  • Mở lớp truyền nghề theo phương thức “cầm tay chỉ việc”.

  • Đưa Bài chòi vào trường học như hoạt động ngoại khóa.

  • Ứng dụng công nghệ số để lan tỏa: phim tư liệu, nền tảng video…

  • Khuyến khích nghệ nhân trẻ sáng tạo lời mới, phong cách mới nhưng giữ đúng hồn cốt.

Quan trọng nhất: Bài chòi phải sống trong cộng đồng, chứ không bị “đóng khung” trong bảo tàng hay sân khấu xa lạ.

VII. BÀI CHÒI – TIẾNG LÒNG MIỀN TRUNG GỬI ĐẾN NHÂN LOẠI

Khi tiếng hô thai vang lên giữa đêm xuân, khi tiếng cười dội từ chòi này sang chòi khác, khi đứa trẻ tranh nhau chạy theo anh hiệu, lúc đó ta mới hiểu: Bài chòi không chỉ là nghệ thuật, mà là tiếng lòng của người miền Trung - tiếng lòng vừa hồn nhiên, vừa sâu thẳm; vừa vui tươi, vừa triết lý.

Bài chòi là bản nhạc của biển gió, là câu chuyện của ruộng đồng, là niềm vui của cộng đồng, là dấu ấn văn hóa mà đất trời miền Trung trao tặng con người.

Giữ Bài chòi không chỉ là giữ một trò chơi, mà là giữ cả tinh thần lạc quan, trí khôn dân gian, đạo nghĩa cộng đồng. Đó là di sản mà người xưa gửi lại, là món quà mà chúng ta có trách nhiệm gìn giữ và trao về cho thế hệ mai sau.

Và tôi tin, với hơi thở mộc mạc mà sâu sắc ấy, Bài chòi sẽ không bao giờ mất. Bởi chừng nào người miền Trung còn biết cười trong gian khó, còn biết yêu trong nghịch cảnh, còn biết nắm tay nhau qua mùa bão lũ, thì chừng đó tiếng hô bài vẫn còn vang lên - vang như tiếng quê, tiếng đất, tiếng người miệt mài sống và yêu.

KẾT LUẬN

Nghệ thuật Bài Chòi là một kiệt tác của sự sáng tạo dân gian, một biểu tượng sinh động cho bản lĩnh văn hóa của người miền Trung. Với hình thức diễn xướng tổng hợp độc đáo, kỹ thuật Ngâm – Hô – Hát điêu luyện và khả năng ứng tác tài tình của người nghệ nhân, Bài Chòi đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành di sản chung của nhân loại.

Nghiên cứu về hình thức, kỹ thuật và phong cách của Bài Chòi không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một loại hình nghệ thuật đặc sắc mà còn là chìa khóa để thấu hiểu tâm hồn, tính cách và triết lý sống của con người Việt Nam trên dải đất miền Trung: lạc quan, kiên cường, trọng nghĩa tình và luôn biết tìm thấy niềm vui ngay trong gian khó. Việc bảo tồn Bài Chòi, do đó, chính là bảo tồn ngọn lửa tinh thần quý giá đó cho các thế hệ mai sau.

 

Tài liệu tham khảo:

      1. Nguyễn Văn Bổn, (2001), “Văn học dân gian Quảng Nam – Miền biển”, Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam.

      2. Giáo sư Trương Dĩnh, (2001) “Tìm hiểu thêm về một câu ca dao kỳ lạ của xứ Quảng”, Kỷ yếu hội thảo “Văn hóa Quảng Nam – Những giá trị đặc trưng”.

      3. Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng chủ biên, (2010),”Tổng tập văn hóa văn nghệ dân gian ca dao, dân ca Quảng Nam”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

      4. Hoàng Chương, (2014), Nghệ thuật Bài chòi Di sản quý của dân tộc, NXB Sân khấu.

      5. Sở VH, TT&DL Quảng Nam, (2023), Di sản Bài chòi xứ Quảng, NXB Đà Nẵng.


 
Báo cáo chuyên đề biện giải về nguồn gốc, quá trình hình thành bài chòi xứ Quảng

Báo cáo chuyên đề biện giải về nguồn gốc, quá trình hình thành bài chòi xứ Quảng

BIỆN GIẢI VỀ NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BÀI CHÒI XỨ QUẢNG

 

Nguyễn Hữu Đổng 

Phó tổng biên tập Báo và PHTH Đà Nẵng


 

Vượt dải Hoành Sơn mở đất phương Nam, các bậc tiền nhân đã tạo tác nhiều di sản để lại cho con cháu hôm nay, trong đó có nghệ thuật Bài chòi. 

Trên vùng Ngũ Quảng xưa (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) cho đến Bình Định, thậm chí tới Bình Thuận - theo các tên gọi tỉnh cũ, Bài Chòi hình thành và phát triển, tiếp biến các giá trị kết hợp âm nhạc, diễn xướng, hội họa và văn học dân gian, để được lưu truyền, quảng diễn nhiều nơi. 

Đặc biệt, ngày 7/12/2017, di sản Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Tuy đã được tiếp tục bảo tồn và tôn vinh nhưng cho đến nay, trong nhiều công trình nghiên cứu vẫn để ngỏ những lý giải khác nhau về nguồn gốc và quá trình hình thành nghệ thuật Bài Chòi. Vì vậy, với mong ước của người con sinh ra, trưởng thành trên đất Quảng, bằng chuyên đề nghiên cứu này chúng tôi muốn biện giải những luận điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu, nhằm tìm hiểu, phân tích và lựa chọn cách hiểu khả dĩ chấp nhận được về nguồn gốc, quá trình hình thành Bài Chòi của miền Trung nói chung, xứ Quảng nói riêng. 
 

I - NHỮNG LÝ GIẢI VỀ NGUỒN GỐC BÀI CHÒI

Lâu nay, nguồn gốc của Bài Chòi luôn là vấn đề gây tranh luận, bởi nó tồn tại dưới ba dạng: (1), trò chơi dân gian; (2), hình thức hô – hát; (3), một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Các nhà nghiên cứu nhìn nhận Bài Chòi không hình thành một lần mà qua quá trình tích hợp nhiều lớp văn hóa.

Cho đến nay, về phương diện hình thức hô hát hay là một nghệ thuật tổng hợp, Bài Chòi bao gồm sự kết hợp với các yếu tố hội họa (hình vẽ các con bài), âm nhạc dân gian, diễn xướng (hô, hát, trình thức biểu diễn)… thì cơ bản các quan điểm không phân cực xu hướng khác biệt nhau nhiều khi xem đó là sản phẩm sáng tạo của người xứ Quảng.

Nhưng về phương diện là trò chơi, có hai xu hướng chính tồn tại trong cách lý giải về nguồn gốc Bài Chòi - chủ yếu là xét yếu tố của bộ bài, hình vẽ các quân bài dùng trong trò chơi Bài Chòi, từ đó có các quan niệm cho rằng: (1), Bài Chòi là trò chơi du nhập từ bên ngoài, với sự tiếp nhận các loại hình bộ bài có nguồn gốc từ ngoại quốc; (2), Bài Chòi là sản phẩm sáng tạo nội sinh từ chính cư dân xứ Đàng Trong, gắn với quá trình mở nước về phương Nam. 

Chúng tôi lần lượt điểm những nét chính của các quan điểm đó như sau:

1. Bài Chòi là trò chơi du nhập từ với sự tiếp nhận các bộ bài ngoại lai: 

Trong tiểu luận nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuyên - Ngô Minh Hiệp, về “Đặc trưng và giá trị nghệ thuật Bài Chòi Nam Trung Bộ” (Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân, 01(62), (2024), tr 142-151) có tổng hợp các “quan điểm bài chòi là hình thức giải trí du nhập từ nước ngoài dựa trên góc nhìn về nguồn gốc của bộ Bài Chòi”. Trong đó, dẫn tư liệu của Nguyễn Đăng Hựu và Nguyễn Thị Kim Bài cho rằng “Bài Chòi của người Việt ở miền Trung có mối quan hệ với loại bài truyền thống của một số quốc gia trong  khu vực Đông Á. Từ việc so sánh về cách chơi, phân chia, hình vẽ trên bộ Bài Tới (Bài Chòi của người Việt ở miền Trung) và loại bài giấy Mã Điếu, Mạt Chược, Diệp Tử, Tào Châu của Nhật Bản và Trung Quốc, nhóm tác giả đã phát hiện một số nét tương đồng và khác biệt, cụ thể là hình ảnh những nhân vật trong tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc khúc xạ lên hình ảnh nhân vật đậm chất tuồng/hát bội của bộ Bài Tới, dấu ấn văn hóa Bách Việt thông qua biểu tượng đồng tiền, đường tơ thoi dệt trên lá Bài Tới. Vì vậy, nhóm tác giả đi đến nhận định rằng Bài Chòi mang dấu ấn tương tác với văn hóa Hoa Hạ và vùng Bách Việt thông qua dòng người di dân, buôn bán, sau đó người Việt đã Việt hóa hình thức lá bài du nhập gắn với không gian cộng đồng theo tính chất trình diễn ứng tác phi sân khấu (“Bài chòi Trung Bộ: Nguồn gốc, quan hệ và bản sắc”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6 (2018), tr.33-41).

Tương tự quan điểm trên, trong bài “Nguồn gốc bộ Bài Chòi” (báo Tuổi trẻ, 2007) đưa ra nhận định của nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc cho rằng, cách gọi các pho của bộ Bài Tới có liên quan đến loại bài giấy của Trung Quốc là Diệp Tử, ngoài ra còn có một số đặc điểm tương đồng giữa bộ Bài Tiền Thẻ ở Quảng Châu (Trung Quốc) và Bài Tới ở miền Trung (Việt Nam). Do đó, giả thuyết về nguồn gốc của bộ Bài Tới được cho là có liên quan đến Bài Tiền Thẻ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam giữa thế kỉ XVII. 

Nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông, trong bài viết “Bàn thêm về Bài Chòi” (Tạp chí Sông Hương, năm 2018, tr 348) đã đưa ra phỏng đoán các bộ Bài Tiền Thẻ từ Quảng Đông (Trung Quốc) du nhập vào miền Trung (Việt Nam) rồi biến đổi về tạo hình và cách chơi bài. Đó là do tiền thân của bộ Bài Tới đã từng du nhập vào miền Bắc (Việt Nam) với lối chơi phổ biến gọi là đánh bài Tổ Tôm (tụ tam). Vì vậy, Phùng Tấn Đông khẳng định rằng bộ Bài Chòi miền Trung là một sản phẩm hình thành từ quá trình giao lưu văn hóa Việt - Hoa.

Không những dựa trên nhận diện hình vẽ quân bài, Phùng Tấn Đông còn căn cứ vào lối hô hát để đưa ra quan điểm về nguồn gốc Bài Chòi dựa trên sự bắt chước  của người Việt với người Hoa, rằng: “Hô bài chòi ở Quảng Nam còn gọi là hô thai, có gốc từ trò chơi thai đề xổ cổ nhơn (cử nhân). Hội chơi xổ cổ nhơn diễn ra vào dịp tết âm lịch, tương truyền ban đầu chỉ là một trò chơi nhỏ trong cộng đồng người Hoa, sau dần người Minh Hương, người Việt có chữ nghĩa đều tham gia vì trò này tương tự như trò “thả thơ” - nghĩa là xem câu thai (câu đố) rồi suy đoán ý nghĩa của quân bài được đố” (Di sản Bài Chòi Quảng Nam, nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, 7/11/2022).

2. Bài Chòi là sản phẩm sáng tạo nội sinh của người Việt ở Đàng Trong: 

Quan điểm này được đưa ra rất sớm, tiêu biểu là nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp (gốc Ba Lan) - G.L Bouvier. Trong cuốn “Larousse Musicale”  xuất bản tại Paris (Pháp) năm 1928, nhà nghiên cứu này đã dành riêng một chương dài có tiêu đề là “Chansons populaires de l’Annam” (Những bài hát phổ thông của người An Nam) để nói về Bài Chòi. Ông cho rằng “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến (1470)” (La Nhiên, “Quê Hương Điệu Hát Bài Chòi”, bản in ronéo, Sài Gòn năm 1974). Cũng trong chương này, theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên thì Bouvier đã đề cập rất kỹ về Bài Chòi. Thậm chí ông còn so sánh những câu tục ngữ, ca dao Việt Nam với những câu nói dân gian ở Algérie. Ví dụ: “Avec un sac plein de piastres, même parlant à tort et à travers on est toujours très écouté” (Vai mang bị bạc kè kè/ Nói bậy nói bạ nẫu nghe rầm rầm).

Lý giải của Bouvier về ngồn gốc Bài Chòi khá thú vị: “Khi xuôi về phương Nam, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Amaravati đến Panduranga (tức từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Thuận), đặc biệt thành công trong việc xây dựng kinh tế văn hóa và đời sống ở vùng châu thổ Vjiya (Bình Định, Phú Yên) rất phì nhiêu. Được như vậy là nhờ vào sự tập hợp rộng khắp và hợp lý cùng một lúc các dân tộc trên vùng lãnh thổ thành một khối. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương vốn dĩ mang truyền thống văn hóa từ lâu đời trên khắp mọi miền, từ phương Bắc tới. Chính vì có sự tập trung đa dạng và phong phú về mặt văn hóa như vậy nên người dân An Nam có điều kiện kết hợp, hòa thuận nhanh chóng với nền văn hóa của đồng bào địa phương vốn đã sinh sống từ lâu tại đây. Sau đó họ cải cách một số làn điệu dân ca, dân vũ để phù hợp với nếp sống của cộng đồng (mới) lúc bấy giờ… và Bài Chòi đã ra đời trong hoàn cảnh như thế”. 

Quan điểm của Bouvier chính là một cơ sở để nhà nghiên cứu Trương Được (bút hiệu laiquangnam), quay trở lại nguồn cội sinh thành là xứ Quảng của ông để đưa ra những phỏng đoán, rằng Bài Chòi là sản phẩm sáng tạo của người Đàng Trong. Khi thực hiện chuyên đề về “Di sản Bài Chòi Quảng Nam” cho nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số ra ngày 7/11/2022, chúng tôi đã có dịp phỏng vấn nhà nghiên cứu Trương Được. Luận điểm mà ông tâm đắc là: “Bộ Bài Tới Quảng Nam được hình thành nhờ trí tuệ tập thể của người Đàng Trong từ sau 1648 (khi chúa Nguyễn Phúc Lan qua đời), và chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần, 1620 - 1687) muốn có một bộ bài để bà mẹ kính yêu góa bụa của mình (Đoàn Quý Phi, người quê Đông Yên, Duy Xuyên, Quảng Nam) được giải trí cùng những người hầu cận. Khi con trai Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, bà Đoàn Thị Ngọc – Đoàn Quý Phi được tôn hiệu là Quốc Thái phu nhân (Thái Hậu), sau khi chồng mất bà lui về sống tại Dinh trấn Thanh Chiêm”.

Cũng theo nhà nghiên cứu Trương Được, Bài Chòi ghi dấu ấn của di dân, là sáng tạo của người Đàng Trong nhưng vẫn mang theo ký ức của quê cha đất tổ từ Đàng Ngoài, còn ẩn tàng trong hình vẽ từ quân bài và lời hô hát. Ông nhận xét và phỏng đoán: “Lần theo dòng lịch sử dân tộc, qua bao cuộc chiến tranh loạn lạc, quân thù phương Bắc giày xéo dân tộc Lạc Việt. Người Việt gốc chạy vào vùng Thanh - Nghệ bởi họ không muốn ra làm quan Bờm cho Tàu. Đến thời Hồ - Lê - Mạc - Trịnh, họ tiếp tục chạy vào phương Nam. Đoàn người theo chúa Nguyễn Hoàng bỏ miền Bắc vượt đèo Ngang, hẳn đã mang theo những ký ức sống cay đắng từ nơi chôn nhau cắt rốn. Ẩn ức đó trao truyền đến những thế hệ sau trên miền đất mới, và người Đàng Trong đã vẽ lại chân dung tuyến quan Bờm – gọi trại ra là những quan bợm, trong bộ Bài Tới, đã từng đè nén áp bức cha ông họ trong quá khứ ở đất Bắc, rồi ngay trong thời họ sống có nguy cơ tái diễn các gương mặt ấy.

Có thể bài ca “Thằng Bờm có cái quạt mo” còn mang theo trong lòng người từ đất Bắc, truyền vào Nam, nay họ vẽ cái quạt mo trên những lá bài che mặt đám quan Bờm, trên đầu có chữ Hán (Điền kiến, 田見) để mỉa mai những kẻ đi học chữ Tàu rồi ra làm quan ức hiếp dân nghèo ở quê xưa. Đó là một tuyến bài với tên cúng cơm của mỗi lá là định danh mỗi hạng người tồn tại trong xã hội Việt thời đó, với 10 nhân vật là: Trò (Nhất Trò), Đấu (Nhì Bí), Quăn (Tam Quăn), Hương (Tư Hương), Ngũ (Ngũ Trợt), Xơ (Lục Trạng), Dọn (Thất Nhọn), Bồng (Bát Bồng), Thầy (Cửu Chùa), Tử (Thái Tử)” ((“Bộ Bài Tới với dấu ấn di dân”- Nguyễn Điện Nam, nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số ra ngày 7/11/2022).

 

II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH “CHIẾC NÔI” BÀI CHÒI

Trong nội vùng Trung Bộ, hiện tại vẫn còn phân chia bốn luận điểm khác nhau khi lý giải về nơi xuất xứ - cái nôi Bài Chòi: (1), cho rằng cái nôi là Bình Định; (2), nôi là Huế; (3), cái nôi là xứ Quảng; (4), cái nôi chung là cả vùng.

1.Về quan điểm chiếc nôi Bài Chòi là Bình Định

Đây là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu đăng tải trên các sách báo, tạp chí của Bình Định. Nổi bật như một số nhà nghiên cứu đưa ra luận cứ rằng Ðào Duy Từ (1572-1634), người Thanh Hóa, theo Chúa Nguyễn vào Nam, điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bình Định. Đào Duy Từ đã dựa theo mô hình tiêu khiển ở các chòi canh miền núi mà sáng tạo ra hội Bài Chòi. Từ lối sinh hoạt văn hóa nương rẫy, ông ứng dụng vào trò chơi đánh bài trên chòi, dần dần có tên gọi là hội đánh Bài Chòi. Tư liệu của ông Hoàng Lê dẫn ra trong “Lịch sử ca kịch & âm nhạc Bài Chòi”(Sở VHTT Bình Định xuất bản 2001), đã nêu: “Theo lời cụ Phan Đình Lang (sinh năm 1910) thì chính cụ đã từng nghe ông nội, ông thân cụ và cũng nghe nhiều người khác kể là hội bài chòi là do ông Đào Duy Từ (1571-1634) sáng lập, ông Đào Duy Từ từ Bắc vào đến Bình Định thì lại lo việc di dân lập ấp. Trong thời kỳ đầu, việc khai khẩn đất hoang được coi là chủ yếu. Trên từng khu đất mới vỡ và bắt đầu sản xuất, người ta phải cất những cái chòi cao làm bằng tranh, tre để canh giữ thú rừng, bảo vệ hoa màu. Những cái chòi được bố trí theo hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình bán nguyệt theo địa hình và tùy theo sự thuận tiện hỗ trợ cho nhau trong việc canh gác. Trên mỗi chòi đều có mõ, thanh la, trống hoặc các thứ để gây tiếng động mỗi khi có thú rừng kéo đến phá hại hoa màu hay uy hiếp người canh giữ thì lập tức các thứ dùng để làm thanh viện đó đồng khua ầm lên để xua đuổi thú dữ. Từ việc tổ chức các chòi canh để bảo vệ sản xuất, ông Đào Duy Từ mới nghĩ ra một trò chơi trong dịp tết: Hội Bài Chòi”.

Còn Nguyễn Văn Ngọc  căn cứ hình vẽ các quân bài mà cho rằng Bình Định là một trong những chiếc nôi, như “các con bài thuộc pho Vạn: Có chữ viết Hán tự, người bán thân và đồ án trang trí ở dưới cùng. Ở các con bài này, hình người bán thân hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hý khúc hay nhân vật Thủy hử thuộc pho Vạn của diệp tử mã điếu và toàn đối. Đối với bộ Bài Chòi, Bài Tới trong chừng mực nào đó là mặt tuồng (hát bội) – loại hình “Hý khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ nói chung, Bình Định nói riêng, nơi bộ Bài Chòi, Bài Tới thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch, rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như học trò (Nhứt trò), thầy (Cửu chùa) đội mũ Tì lư”(https://xunauvn.org/2019/06/25/di-tim-nguon-goc-bo-bai-choi). 

Một tư liệu khác cũng cho biết, từ năm 2000, hội đánh Bài Chòi Xuân được NSƯT Phan Ngạn (1931-2008) của Đoàn Ca kịch Bài Chòi Bình Định phục hồi. Ông Ngạn là người có công đầu trong việc khôi phục lại bộ Bài Chòi, hội chơi, tìm lại được các nghệ nhân Hiệu hạt nhân để tổ chức được một hội Bài Chòi truyền thống. Với sự tiếp sức của dự án bảo tồn “Hội đánh Bài Chòi cổ dân gian Bình Định” cùng với hiệu quả từ các kỳ liên hoan dân ca Bài Chòi trên địa bàn tỉnh, năm 2010, hội đánh Bài Chòi mới thực sự hồi sinh.

2. Về chiếc nôi là xứ Huế - Quảng Trị 

Theo Phùng Tấn Đông, “các nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm nguồn gốc của bộ Bài Tới. Dựa vào việc in ấn theo kỹ thuật in mộc bản bộ bài ở làng Sình (làng Lại Ân), các hộ người Hoa ở vùng Gia Hội, gần chợ Đông Ba (đều ở Thừa Thiên Huế) và cả các hộ kinh doanh người Hoa ở chợ Hội An (Quảng Nam), nhà nghiên cứu Huỳnh Hữu Ủy cho rằng: “…Ở miệt Huế và Quảng Nam, trong dân gian có bài vè “Nghe vẻ nghe ve/ nghe về bài Tới/ cơm chưa kịp xới/ trầu chưa kịp tem/ tôi đánh một đêm/ thua ba tiền rưỡi/ về nhà chồng chửi/ thằng Móc thằng Quăn/ đánh sao không ăn/ mà thua lắm bấy…”. Cho đến nay, bộ Bài Tới vẫn được cư dân từ Quảng Bình đến Quảng Nam sử dụng để chơi Bài Chòi. Huế vẫn là đầu mối hàng năm cung cấp cho các tỉnh bộ bài in mộc bản (bộ Bài Tới)”. Như vậy, nếu xét ở bộ bài dành để chơi thì họ Phùng cho Bài Chòi có xuất xứ từ bắc đèo Hải Vân, tuy nhiên ông cũng nhận thấy: “Lâu nay, ít người quan tâm đến sự khác biệt về mặt mỹ thuật của bộ bài dùng để chơi Bài Chòi của Bình Định với bộ Bài Tới dùng để chơi Bài Chòi của xứ Quảng, xứ Huế. Theo các nhà nghiên cứu, mặc dù tên gọi các quân bài ở hai vùng đại thể khá giống nhau nhưng nét vẽ, màu sắc các quân bài lại rất khác nhau”. 

Nhà nghiên cứu Trương Được, khi trả lời phỏng vấn của chúng tôi, cũng đề cập về dấu vết các quân bài trong bộ bài để chỉ dấu nơi xuất xứ từ Quảng Trị và Huế, vốn là định đô đầu tiên của các Chúa Nguyễn. Chẳng hạn, như “Trong tuyến bài có lá bài tên là Dọn. Có thể nhận thấy dấu vết tiếng Quảng Trị - Thừa Thiên. Ngày đó đất Quảng Trị là nơi đặt lỵ sở đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng. Người Quảng Trị phát âm Nh ==> d, gi (như “nho nhỏ” nói thành “do dỏ”). Người Quảng Nam nghe hiểu Dọn là Nhọn. Con bài nằm ở bậc thứ bảy. Bảy là thất, ra lá bài Thất Nhọn. Thất Nhọn là một quan Bờm kế sau Lục Trạng - một hạng quan Bờm chuyên nghề bẻ cong công lý, kết án người vô tội, không tội đánh cho nhận tội, muốn khỏi đòn roi thì phải đút lót. Đó là cái nghề làm quan ăn cướp, phổ biến nhất là ở thời Lê mạt”. (“Bộ Bài Tới với dấu ấn di dân”- Nguyễn Điện Nam, nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số ra ngày 7/11/2022).

3. Chiếc nôi là xứ Quảng

Trong tiểu luận khá công phu về “Bài chòi Trung Bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã” của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan (https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-co/bai-choi-trung-bo-viet-nam-tu-goc-nhin-cua-nguoi-nghien-cuu-dien-da) đã bác bỏ luận điểm cho Bài Chòi chỉ có nguồn gốc từ Bình Định, và rằng ““thuyết tương truyền” cụ Đào dạy cho dân chơi Bài Chòi chỉ là phỏng đoán, thiếu chứng cứ thuyết phục”. Đồng thời qua điền dã và so sánh kỹ các quân bài ở các địa phương, Đặng Hoành Loan nhận xét “có tới trên 50% tên con bài khớp với tên con Bài Tới được sản xuất tại Thừa Thiên Huế. Ngay cả hình vẽ trên con bài cũng có nhiều hình trùng lặp”. Tuy nhiên, về phương diện âm nhạc, so sánh 2 vùng Nam- Bắc Trung Bộ, Đặng Hoành Loan cũng chỉ ra sự khác biệt: “Âm nhạc Bài Chòi Bắc Trung Bộ giàu nhạc tính nhưng thiếu kịch tính nên không sinh ra nghệ thuật độc diễn Bài Chòi. Âm nhạc Bài Chòi Nam Trung Bộ là âm nhạc dành riêng cho nghệ thuật Bài Chòi”. 

Từ nhận xét của Đặng Hoành Loan về mặt am nhạc, đồng thời khảo cứu thêm ở góc độ phương ngữ, nếu chúng ta coi xứ Quảng là bắt đầu cho phương ngữ Nam Trung Bộ, là “bước Quảng Nam” đển tiến về phương Nam, có nhiều yếu tố để xem xét chiếc nôi Bài Chòi từ đất này. Hẳn nhiên, đứng ở phương diện là người con xứ Quảng, ít nhiều chúng tôi cũng dính mắc trong thiên kiến để nghiêng về quan điểm xem xứ Quảng là chiếc nôi Bài Chòi. Dẫu vậy, những nhận xét và phỏng đoán của các nhà nghiên cứu chuyên sâu khiến còn phân vân, cần phải xem xét kỹ lưỡng. Chẳng hạn, những yếu tố Quảng xuất hiện trên dấu vết tên con bài, “là những tên gọi nôm na, tinh nghịch, hài hước, tiếng Nôm có, tiếng Hán có... mà khi đọc lên rất vui tai, ngộ nghĩnh, đôi lúc tưởng như tục tĩu, thô lỗ, nhưng vẫn rất tự nhiên: Bảy Giày, Bảy Sưa, Ba Gà, Ba Bụng, Nọc Đượng, Năm Rún, Ông Ầm, Bạch Tuyết (đôi nơi gọi là Bạch Huê, có khi còn gọi là con l…), Tứ Tượng (Dái Voi), Ngủ Trưa… Có con bài gợi lên hình ảnh một anh nông dân chây lười, biếng nhác “ngủ trưa, ngủ trợt”, có con lại gợi lên sự đanh đá điêu ngoa “Đỏ Mỏ”, có con lại gợi lên hình ảnh gánh gồng của một đôi gióng nặng nợ “Tứ Gióng”. Trong những tên gọi đó, ta thấy nhiều âm sắc của người Quảng, là thổ âm, thổ ngữ. Về âm nhạc, cũng có yếu tố Quảng như lối hát hò khoan, hát ru, vè Quảng, lý thương nhau, hò giã vôi,… đôi khi lại điểm giọng tuồng/hát bộ, mà xứ Quảng rõ ràng là chiếc nôi nổi tiếng hát bộ/hát bội. Nói thêm về dấu vết thổ âm, giọng nói, trong nguồn gốc bài Tổ Tôm và hình họa của bộ bài này, nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc còn đã đưa ra giả thiết rất lạ là: “Theo các cứ liệu lịch sử, chúng ta có thể giả định là các hình họa đó do một nghệ nhân/họa sĩ người Nhật sống ở Hội An thực hiện và in ấn bán ra thị trường Đàng Trong, dựa trên qui phạm của loại bài Mặc Hòa (hay Đấu hổ) vốn đã phổ biến trước đó. Giả thiết này được hỗ trợ bởi cứ liệu ngữ âm phương ngữ xứ Quảng: âm “am” được đọc thành “ôm”“ (“Nguồn gốc bộ Bài Chòi” - báo Tuổi trẻ, 2007)”.   Nói thế thì từ Tổ Tôm đến Bài Tới, rồi Bài Chòi, xứ Quảng là một chiếc nôi đáng kể chăng?

4. Chiếc nôi chung cả vùng Trung Bộ (trừ Tây Nguyên)

Ba luận điểm trình bày ở trên chưa làm thỏa mãn hết thảy những ai quan tâm tìm hiểu về nguồn gốc Bài Chòi. Chúng tôi cũng thấy rằng, kể từ thời mở đất về phương Nam thì ảnh hưởng vùng đất văn hóa của dân tộc Việt kéo dài từ vùng Ngũ Quảng xưa (gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức - Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi), sau mới đến Phú Yên, rồi tới Ninh Thuận, Bình Thuận, nên việc khẳng định địa phương nào là cái nôi - điểm khởi phát của Bài Chòi, thì cho tới nay vẫn chưa ai tìm ra cứ liệu lịch sử rõ ràng. Hầu hết luận điểm đưa ra đều dựa trên phân tích và phỏng đoán. Và nói như nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, “muốn đi tìm chân dung lịch sử có tính chất biên niên cho nghệ thuật dân gian, là điều không tưởng”, và Bài Chòi cũng không ngoại lệ.

Theo GS. Hoàng Chương thì: “Cho đến nay, vẫn chưa tìm thấy văn bản nào có ghi lại nguồn gốc ra đời của nghệ thuật Bài Chòi. Tuy nhiên, qua truyền thuyết dân gian, qua lời kể của những nghệ nhân cho thấy, nguồn gốc và sự ra đời của nghệ thuật Bài Chòi gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao động”(https://baodanang.vn/bai-choi-suc-song-di-san-3029218.html).Nhận định này không khác mấy với các nhà nghiên cứu tiền bối, khi chỉ ra nguồn gốc rất chung chung của nhiều loại hình văn hóa văn nghệ dân gian, là “vô danh xưng” với tác giả tập thể trong quá trình lao động sản xuất. 

Luận điểm cuối cùng được nhiều người “khả dĩ chấp nhận được” là coi Bài Chòi có chiếc nôi chung cả miền Trung (trừ Tây Nguyên). Theo đó, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất và sự sáng tạo trải qua nhiều thế kỷ, nghệ thuật Bài Chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân miền Trung. Điều này được nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan, người đóng góp rất lớn trong việc xây dựng hồ sơ để công nhận Bài Chòi là Di sản Văn hóa vật thể của nhân loại, ông khẳng định: “chúng tôi có thể chứng minh rằng nghệ thuật dân gian Bài Chòi là một trong những hình thức trong toàn bộ các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian của đồng bào miền Trung” (“Bài chòi Trung Bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã”-https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-co/bai-choi-trung-bo-viet-nam-tu-goc-nhin-cua-nguoi-nghien-cuu-dien-da).

 

III- KẾT LUẬN

1. Dù còn có ý kiến khác nhau về nguồn gốc, quá trình hình thành, chiếc nôi ra đời Bài Chòi, nhưng luận điểm khả dĩ chấp nhận được ở nhiều nhà nghiên cứu là sản phẩm văn hóa này rất độc đáo, là sáng tạo của cư dân trong lịch sử phát triển xứ Đàng Trong, bắt đầu từ Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận. 

2. Tổng quan có hai luận điểm chính về nguồn gốc Bài Chòi hình thành theo hai quan điểm đối lập: nội sinh và du nhập/tiếp biến văn hóa. Cả hai quan điểm này đều cung cấp sự phỏng đoán về thời điểm xuất hiện Bài Chòi mặc dù chưa có bằng chứng xác thực nhưng riêng với xứ Quảng, nơi mà từ thế kỷ 15 đã có hành trình đi mở nước mạnh mẽ, thì chắc chắn văn nghệ dân gian của miền đất sông Hồng, sông Mã sẽ lan tỏa theo bước chân di dân đến miền Ngũ Quảng, để lại dấu vết trong nhiều loại hình văn hóa, văn nghệ, trong đó có Bài Chòi mà giới học thuật xem đó là “cái gen văn hóa Lạc Việt”. Và sâu xa hơn, như một số nhà nghiên cứu đã cho rằng ít nhất Bài Chòi hình thành khi xứ Đàng Trong phồn thịnh. Quảng Nam lúc bấy giờ có thương cảng quốc tế Hội An, quy tụ thương nhân khắp nơi, trong đó người Hoa, người Nhật đã ở lại lập phố, nên việc giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt diễn ra là điều chắc chắn, và trên nền ấy họ đã sáng tạo nhiều loại hình văn hóa đa dạng bản sắc. 

3. Hồ sơ Di sản Bài Chòi đã được xét và công nhận, đó cũng là tài sản chung của miền Trung, nên mọi việc đi tìm “chiếc nôi riêng” với tính chất “cục bộ bản vị” thì không hay ho chi. Bài Chòi có thể tiếp thu Bài Tới, với tư cách là trò chơi, rồi đổi mới tên gọi, cải tiến hình thức để làm nên bộ bài đặc trưng; đồng thời với tư cách là nghệ thuật tổng hợp, trong Bài Chòi có sự tiếp biến, cải biên nhiều làn điệu dân ca, trình thức diễn xướng, làm ra ít nhiều sai khác từ khu 4 cũ đến khu 5, từ Quảng Nam và Bình Định, nhưng tất thảy đều đính trên chiếc nôi Di sản Bài Chòi là của chung vùng đất này. Việc của hậu thế chúng ta là làm sao bảo tồn và phát huy vốn quý từ cha ông trao lại ấy, xiển dương cho lộng lẫy một di sản đáng tự hào. 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. The Art of Bài Chòi in Central Viet Nam – UNESCO Nomination File (2017)- Hồ sơ Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 

PDF: https://ich.unesco.org/doc/src/31422.pdf

2. “Di sản Bài Chòi Quảng Nam”- Phùng Tấn Đông, Nguyễn Điện Nam - Nguyệt san Văn hóa Quảng Nam, số 7/11/2022

3. “Đặc trưng và giá trị của nghệ thuật Bài Chòi Nam Trung Bộ” - Nguyễn Thị Thanh Xuyên & Ngô Minh Hiệp - Tạp chí nghiên cứu Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân, số 01, 2024.

4. “Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam”- Đặng Hoành Loan -Viện Âm Nhạc.
PDF:
https://vienamnhac.vn/Media/Default/Download/bai%20choi.pdf

5. “Nghệ thuật Bài Chòi dân gian: Khó khăn, thách thức trong thời hội nhập”- báo Văn Hóa Nghệ Thuật Việt Nam. Link:https://vanhoanghethuat.vn/nghe-thuat-bai-choi-dan-gian-kho-khan-thach-thuc-trong-thoi-k-hoi-nhap.htm

6. “Bài Chòi Trung Bộ – Nghệ thuật dân gian đặc sắc của cư dân vùng duyên hải” - Báo Nhân Dân. Link: https://nhandan.vn/bai-choi-trung-bo-nghe-thuat-dan-gian-dac-sac-post630991.html

7. “Bài Chòi – di sản sống của miền Trung”– Báo Quân đội Nhân dân.
Link:
https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song-van-hoa/bai-choi-di-san-song-cua-mien-trung-688085

8. “Bài Chòi – Trò chơi dân gian, loại hình diễn xướng độc đáo của Trung Bộ” - VOV (Tiếng nói Việt Nam). Link: https://vov.vn/van-hoa/bai-choi-tro-choi-dan-gian-loai-hinh-dien-xuong-doc-dao-cua-trung-bo-907252.vov

9. “Bài Chòi – Nghệ thuật dân gian được trao truyền qua nhiều thế hệ” - VNews. Link: https://vnews.gov.vn/bai-choi-nghe-thuat-dan-gian-duoc-trao-truyen-qua-nhieu-the-he-9665.htm

10. “Hội An: Bài Chòi – nét văn hóa sống trong lòng phố cổ” - Báo Quảng Nam Online. Link: https://baoquangnam.vn/van-hoa/hoi-an-bai-choi-net-van-hoa-song-giua-pho-hoi-121345.html

11. “Đà Nẵng khôi phục và phát triển nghệ thuật Bài Chòi” - Báo Đà Nẵng.
Link:
https://baodanang.vn/van-hoa/202112/bao-ton-phat-huy-nghe-thuat-bai-choi-3890177/

12. “Bình Định – cái nôi của nghệ thuật Bài Chòi” - Báo Bình Định.

Link: https://baobinhdinh.vn/viewer.aspx?macoso=44&macl=2&id=170432

13. “Khánh Hòa: Bài Chòi lan tỏa thành sản phẩm văn hóa du lịch” - Báo Khánh Hòa. Link: https://baokhanhhoa.vn/van-hoa/202212/bai-choi-san-pham-van-hoa-dac-trung-cua-khanh-hoa-8264526/

14. “Phú Yên: Hô hát Bài Chòi trở lại trong lòng người dân”- Báo Phú Yên Online.Link: https://www.baophuyen.com.vn/82/305511/ho-hat-bai-choi-dang-tro-lai-trong-long-nguoi-mien-trung.html

15. “Bài Chòi được UNESCO vinh danh – cơ hội và thách thức” - Báo Văn hóa – Bộ VHTTDL. Link: https://baovanhoa.vn/van-hoa-di san/artmid/488/articleid/14033

16. “Bài Chòi – Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại”- VOV World – Đài TNVN. Link: https://vovworld.vn/vi-VN/van-hoa/bai-choi-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-599907.vov

17. “Bài Chòi Trung Bộ: Bước ngoặt sau khi được UNESCO công nhận” - Báo TTXVN. Link: https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/bai-choi-trung-bo-duoc-unesco-cong-nhan-232235.html

18. “Bài chòi Trung Bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã”- Đặng Hoành Loan - https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-co/bai-choi-trung-bo-viet-nam-tu-goc-nhin-cua-nguoi-nghien-cuu-dien-da).

19.”Nguồn gốc bộ Bài Chòi” - Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc - báo Tuổi trẻ, 2007