Tìm kiếm

ĐẤT QUẢNG QUÊ HƯƠNG TÔI

ĐẤT QUẢNG QUÊ HƯƠNG TÔI

ĐẤT QUẢNG QUÊ HƯƠNG TÔI

                                        Phùng Tấn Đông

 

Hò khoan:         Sông Thu Bồn chảy về Cửa Đại

Lạch Bình Long chảy mãi ra Hàn

Ai Về Đà Nẵng Hội An

Cho ta nhắn gửi đôi hàng tâm tư

 

Lối xuân nữ:     Quê hương tôi giọng hò khoan trên sông Thu xanh mát

Yêu gió bờ tre xào xạc giữa trưa hè

Yêu những con đường rợp bóng mát cây xanh

Yêu trang sách bài thơ tự hào về Đất Quảng

Đến đây phải ở lại đây

Ở cho bến rễ xanh cây…hẳn về

Lời mời chan chứa tình quê

Như lời quê- mãi lời thề sắc son

Quê tôi phong cảnh hữu tình

Có rừng núi, có đồng bằng biển khơi

Lời ru mẹ hát bên nôi

Mãi nuôi lớn những con người thủy chung

 

Vè quảng:         Bồng em mà bỏ vô nôi

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ quán chợ cầu

Mua cau Bất Nhị mua trầu Hội An

 

Cổ bản:        Nước Thu Bồn gặp Trường Giang

Thuyền về Cửa Đại - Lao Chàm rong khơi

Yêu biết mấy Quảng Nam ơi

Giọng hò đưa mãi câu hò âm vang

Ai về nhắn với bạn nguồn

Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên

Máu nào rời khỏi buồng tim

Nước xuôi về biển còn vọng lên trên nguồn

 

Hò quảng:     Đẹp thay đền tháp Mỹ Sơn

Biền dâu gió mát lụa mềm sông Thu

Về thăm phố cổ Hội An

Nét tài hoa -thợ Kim Bồng Nam Diêu

Tiếng đồn nức tiếng Phước Kiều

Hồ tiêu Tiên Phước rượu cần Trà My

Giọng quê níu bước người đi

Xa quê là nhớ cũng vì yêu quê

Tôi yêu tha thiết bao nhiêu

Lời ru của mẹ thật nhiều….(thật nhiều) ước mơ.

 
Tổ khúc dân ca:	DẠ KHÚC SÔNG HOÀI

Tổ khúc dân ca: DẠ KHÚC SÔNG HOÀI

Tổ khúc dân ca:    DẠ KHÚC SÔNG HOÀI

                                Phú Sương - Phùng Sơn

Hò khoan:         À ơi….Hội An  đất chật hẹp người đông
            Nhân tình thuần hậu lá bông đủ màu
            Ai qua phố Hội Chùa Cầu

            Để thương mà để nhớ, để sầu cho ai!

            Khoan hố hợi là hò khoan….

 

Hò chèo thuyền:    Ngó lại quê mình….. em chèo thuyền ra sông Hoài Phố

 

Lý hò hê:        *Ta siết tay chặt tay – hê hò hê

            Ta siết tay chặt tay – hẹn một ngày tái ngộ

            Chan chứa ân tình – nơi phố cổ thân là thương – hê hò hê.

            Giọng hò, điệu lý du dương

            Trăng vàng trải lụa thùy dương tự là tình – hò là 

 

            *Cảnh sắt tươi là xinh- hê hò hê

            Cảnh sắt tươi mùa thanh bình mở hội

            Câu hát ân tình – theo nhịp phách bay là cao – hê hò hê

            Trăm năm dù biển xanh dâu

            Nghìn xưa vẫn sống với nghìn sau đời muôn đời 

            Hò là hê- hò là hê hế hê hế hò l;à hê.

 

Hò ba lý:        *Thuyền ta lướt sóng trên sông Hoài

            Ba lý tang tình mà nghe

            Ta hò ba lý tình tang -lướt sóng trên sông Hoài

            Trời trong mà gió mát – la hố - mê say lòng người

            Khoan hố khoan là hố hò khoan

 

            *Câu hò tiếng sáo chơi vơi

            Ba lý tang tình mà nghe

            Ta hò ba lý tình tang - tiếng sáo chơi vơi

            Tình người mở hội – la hố - nụ cười hân hoan

            Khoan hố khoan là hố hò khoan

 

            *Ra về ta nhớ Hội An
            Ba lý tang tình mà nghe

            Ta hò ba lý tình tang -ta nhớ Hội An

            Nhớ câu h bên phố- la hố- đêm vàng trăng soi

            Khoan hố khoan là hố hò khoan


 

Dân ca bài chòi:	CẨM NAM QUÊ TÔI

Dân ca bài chòi: CẨM NAM QUÊ TÔI

Dân ca bài chòi:    CẨM NAM QUÊ TÔI             TG: Nguyễn Trĩ

                                                      

Lối:        Mời bạn về thăm quê tôi Cẩm Nam

        Mãnh đất bồi ven sông Thu bồn xanh mát

        Đẹp lắm người ơi bãi bắp, nương khoai

        Hàng cau, cao vút như vẫy tay mời gọi.....

        Qua từng ngày góp tay xây dựng, 

        Quê hương tôi đã thay đổi từng..... ngày

Xuân nữ:    Đường làng ngõ xóm thân thương

        Hương cau ngào ngạt ngát hương mùa vàng

        Bãi ngô xanh ngát bạt ngàn

        Rau thơm hến trộn rộn ràng sớm khuya

        Trường làng tiếng trẻ reo vui

        Tung tăng ca hát tương lai nước nhà

        Quê tôi hiếu khách thật thà 

        Trước sau chung thủy mặn mà chân quê

        Quê mình đẹp lắm bạn ơi

        Cây xanh tỏa mát nơi nơi vẫy chào

Cổ bản:    Nhớ những năm bão lụt ngập tràn

        Ruộng vườn nhà cửa đường làng xác xơ

        Cảnh đói khát bao em thơ

        Cụ già rét lạnh tĩnh mơ giác nồng

        Bao năm nghèo khó chất chồng

        Vẫn cùng nhau đùm bọc một lòng thủy chung

        Sẻ chia hạt muối củ khoai

        Qua cơn khốn khó tương lai vững bền

Xuân nữ:    Còn nhớ những năm gian khổ chiến tranh

        Đạn bom băm nát màu xanh mãnh vườn

        Đấu tranh anh dũng kiên cường

        Nguyễn Khoa, Trương Bút một lòng trung kiên

        Trẻ già trai gái đứng lên 

        Quyết giành độc lập non sông một nhà

Xàng xê:    Chiến tranh giờ đã lùi xa

        Dựng xây đất nước bài ca khải hoàn 

        Tầng cao ngói mới  khang trang

        Điện, đường, trường, trạm, xóm làng yên vui

        Chung tay góp sức dựng xây 

        Quê hương giàu đẹp tương lai rạng ngời

Hồ quảng:     Cẩm Nam đảo nhỏ lung linh

        Câu hò thấm đượm nghĩa tình làng quê

        Người xa rộn bước đi về

        Thương nhau gởi trọn vai kề liền vai

        Bao lời nhắn gởi cùng ai 

        Xa quê đất khách ngày mai tìm về

        Thủy chung son sắc lời thề

        Cùng nhau vun đắp (quê mình)2 ...đẹp tươi.... 

 
CẢM NHẬN HỘI AN

CẢM NHẬN HỘI AN

CẢM NHẬN HỘI AN

Thơ : Nguyễn Bá Thiệu;

    Chỉnh lý: Phú  Sương

Ngâm thơ:     Ngó lên trời trời cao lồng lộng

Ngó xuống đất, đất rộng thênh thang

Ai về viếng cảnh Hội An

Mà thăm phố cổ nửa ngàn năm xưa

 

Vè Quảng:    Cù lao xanh rợp bóng dừa 

Rì rào sóng vỗ sớm trưa thuyền về

Buồm căng lưới nặng cá đầy

Lắng nghe chim yến gọi bầy xôn xao

Về thăm Cửa Đại chiều nay

Biển xanh cát trắng mê say lòng người

 

Xuân nữ:     Gió đưa vọng tiếng à ơi

Tiếng ru như khúc gọi ngưòi tha hương

Về đây giữa phố người thương

Áo mây trắng cõi mù sương trăng ngày

Chuông chùa Phúc Kiếnn ngân nga

Câu thơ ru giữa la đà tình thâm

Qua chùa Quảng triệu chùa Ông

Thiêng liêng trầm mặc ngát hồng hương say

Hoa đăng giăng sáng sông Hoài

Tiếng rao đêm gọi quắt quay canh dài

 

Xàng xê:     Mai về lòng gởi lại đây

Để đêm đêm nhớ để ngày ngày mong

Với bao mái ngói rêu phong

Chùa Cầu Ông Bổn dòng sông con đò

Rau xanh Trà Quế thơm lâu

Tô Mỳ Quảng, Bát Cao lầu đượm hương

Thắm tình đượm nghĩa quê hương

Làng chài bóng lưới gốm nung Thanh Hà

 

Hò Quảng:    Mai rồi mình có nhớ ta 

Ta về nhớ khúc dân ca ngọt ngào

Nụ cười tươi nở muôn màu 

Hội An như sắc mai đào vào xuân

Dù mai trở gót muôn phương

Tình kia vẫn cứ (vấn vương)2 trong lòng.

 
HỆ THỐNG BÀI BẢN, THỂ THƠ VÀ CÁCH ỨNG TÁC TRONG BÀI CHÒI XỨ QUẢNG

HỆ THỐNG BÀI BẢN, THỂ THƠ VÀ CÁCH ỨNG TÁC TRONG BÀI CHÒI XỨ QUẢNG

HỆ THỐNG BÀI BẢN, THỂ THƠ VÀ CÁCH ỨNG TÁC TRONG BÀI CHÒI XỨ QUẢNG

 

NNC. Phùng Tấn Đông

Nguyên chuyên viên phòng VH-TT, TTTH Thành phố Hội An

1. Bài chòi - trò chơi, trò diễn dân gian

Bài Chòi là một trò chơi dân gian có tính chất diễn xướng. Diễn xướng được hiểu là những màn trình diễn nghi lễ (tế, tụng, quỳ, lạy, vái, khấn…) hay những màn diễn trò có ca, hát, múa,nhảy với trang phục, đạo cụ,âm nhạc…của một hay nhiều người theo một bài bản, trình thức được các thế hệ trước, sau trao truyền một cách ổn định nhằm tưởng niệm công tích của đối tượng thờ cúng, thoả mãn nhu cầu tâm linh, nhu cầu cộng cảm, đồng cảm, vui chơi của những người tham gia hội lễ của cộng đồng.Theo các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian thì “diễn xướng gợi nhớ đến một phương thức thông tin nổi bật và được để ý về mặt mỹ học, được bố trí theo một cách đặc biệt và được đưa ra trình diễn trước một cử toạ.Việc phân tích sự diễn xướng-thực ra chính là bố cục của cuộc diễn xướng-làm nổi bật các mặt xã hội, văn hoá,mỹ học của quá trình thông tin” (1).Diễn xướng ở Quảng Nam có thể phân ra các loại hình diễn xướng như:-diễn xướng nghi lễ trong lễ hội/lễ tục như diễn xướng hát/múa Bả Trạo (trong cúng tế cá Ông, lễ cầu ngư);hô hát nhảy múa trong lễ cúng đất, trừ ôn; hát múa đưa linh trong tang ma;diễn xướng mang tính trò chơi, giải trí như hô thai, hô bài chòi, hô lô tô, hát đồng dao(trẻ em).hát hò khoan đối đáp, hô hát các điệu hò tập thể có nguồn gốc từ các hoạt động nghề nghiệp trong đời sống như các điệu hò giã đậu, hò giã gạo, hò giã vôi, hò kéo chài, hò bện dây dừa, hò tát nước…; diễn xướng vừa mang tính chất nghi lễ vừa mang tính chất giải trí, hội hè như hát múa bả trạo, hò đua ghe cúng đảo thuỷ, múa hát sắc bùa chúc xuân, múa Tứ Linh…Bài chòi là diễn xướng mang tính chất giải trí đậm tính chất tích hợp của các thành tố: trò chơi dân gian, văn học dân gian, âm nhạc dân gian, mỹ thuật dân gian, múa dân gian, kịch hát dân gian

Chính vì tính tích hợp/kết hợp/tổng hoà của diễn xướng dân gian bài chòi cho nên việc phân tích các thành tố cấu thành một cuộc chơi bài/một cuộc diễn xướng-các thành tố  vốn luôn gắn bó một cách mật thiết với nhau chỉ mang tính tương đối.Bài chòi vừa là trò chơi vừa là trò diễn như câu rao của anh hiệu:

                      “ Bài chòi vừa hát vừa hô

Vừa nghe thơ phú vừa chờ hên, xui”

Trò chơi dân gian bài chòi ở xứ Quảng sử dụng ba mươi quân bài của bộ bài Tới phổ biến ở vùng Trung trung bộ, từ Quảng Bình (Quảng Trị) đến Quảng Ngãi mà nơi in bài giấy tương truyền ở Hương Trà (Huế), Hội An (Quảng Nam).Bộ bài Tới có 30 cặp quân bài, chia làm ba pho gồm: văn, vạn, sách.Pho vạn gồm có 10 quân gồm :Trò. Đấu,Quăn, Hương,Ngủ, Xơ, Dọn, Bồng, Thầy, Tuyết; Pho văn gồm: Ầm,Hai, Ba,Voi,Rún,Sáu Tiền, Liễu, Tám Tiền,Xe, Thái Tử; Pho sách gồm: Đượng,Nghèo,Gà,Gióng,Giày, Sáu Hột, Sưa,Tám Giây, Gối,Mỏ.Khi in ngoài 27 quân bài in trắng đen, chỉ 3 quân được đóng thêm dấu đỏ, đó là quân Ầm, quân Thái Tử và quân Mỏ

Trò chơi được tổ chức theo quy tắc,người chơi nào có quân bài trùng với quân bài  được anh Hiệu hô tên là được “tới”, “tới” cả ba quân là thắng một ván bài. Vì vậy hai bộ bài được chia hai phần-Ban tổ chức mang hai ống bài ra trình hội chơi-thường người chơi ở Quảng Nam chia làm 10 chòi- phụ việc xóc mạnh từng ống cho các quân bài trộn lẫn vào nhau-ý trình cho người chơi biết việc rút quân bài nào đều có tính may rủi-xong, một ống mang về chòi Cái để bán cho người chơi, mỗi người được mua ba quân bất kỳ, một ống giao cho anh Hiệu.Như vậy, khi trò chơi tiến hành, mỗi chòi người chơi đều mua sẵn ba quân bài-anh Hiệu mỗi lượt rút một quân bài ở ống bài nọc, người chơi nếu khi nghe anh Hiệu xướng tên quân bài nào  mà được trúng thì  đáp lại bằng cách hô “trúng rồi” -sẽ được phụ việc trao một lá cờ con, cả ván chơi trúng hết ba con thì thắng,hô “Tới”,rồi đưa cả ba quân bài lên, anh Hiệu sẽ thông báo có người thắng cả ván rồi và người chơi sẽ được nhận lá cờ to , được nhận quà thưởng.Thường quà thưởng được nhận gấp hai, gấp ba số tiền bỏ ra mua bài để chơi chứ không nhiều vì chơi bài để thử vận may đầu năm và dành chi phí cho ban tổ chức chứ không cốt nhằm việc kiếm tiền do chơi bài, chơi bạc.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               

2. Quá trình hô/diễn đồng thời là quá trình “văn học hoá” văn bản bài chòi(hệ thống bài bản của văn học bài chòi)

1.2-Từ hô thai tên quân bài đến bài chòi câu

Hiện nay việc diễn xướng trò chơi bài chòi vẫn đang tồn nghi các quan niệm khác nhau về tên gọi: hô bài chòi hay ca /hát bài chòi?.Theo các nhà nghiên cứu bài chòi như Đặng Văn Lung, Phan Ngạn, Tạ Chí Đại Trường thì “…vạch xuất phát ban đầu của hô bài chòi là kể chuyện theo nguyên mẫu văn vần có âm giai, nhịp điệu.Những người ngồi nghe phụ hoạ theo lời  hô từ các câu chuyện kể bằng các nhịp tay, mà biến thức của nó sau này là bộ sanh ( gõ).Ngoài ra tên gọi thông thường của hô bài chòi là hô thai.” (2)Theo nhà nghiên cứu Trương Đình Quang ở Quảng Nam “câu thai có nghĩa là câu đố”.Trong trò chơi cổ nhơn vào mùa xuân ở nông thôn “câu đề để đố người chơi xét đoán là câu thai” (3).Câu thai:

“Chỉ vì cái lưỡi đa đoan

Cho nên cúc rã lan tàn hỡi ai!”

là câu thai chỉ “cái kéo”.

Câu:             “lánh mình ở chốn giang tân

Lại còn mang tiếng vi thần bất trung”

là câu thai “tranh đế”(người nghe xét đoán, suy luận “lánh mình để mọc ở bờ sông là tranh giành sự sống với con nước ,ngụ ý “giành nước” là tranh ngôi vua, tức “tranh đế” (tên một loại cỏ tranh).Như vậy từ lối chơi trò cổ nhơn người ta đã đưa lối hô thai vào hội chơi bài chòi.Vì thế “ người ta cũng dùng thuật ngữ hô thai với cái nghĩa hô câu bài chòi” (4)

Xem xét hình thức ca từ của câu thai/câu hô bài chòi thủa mới hình thành-từ câu hô mộc mạc tên quân bài theo thể lục bát với “nét nhạc gần như nói-đi dần tới câu hô không có ý nghĩa gì mà chỉ cần có tên quân bài” (5)-câu hô bài chòi đã có thêm lối diễn tấu/diễn giải thêm bằng các từ đệm như “ hơ, hượu, ư, a, mà,là…”dù lời hô có nội dung, ý nghĩa nhưng thiên về  mục đích là hô tên quân bài.

Hô bài chòi chỉ thực sự hấp dẫn khi lời hô quân bài đã nâng lên thành “bài chòi câu”.Nếu quan niệm “câu là một đơn vị ngôn ngữ độc lập, bao gồm một hay nhiều từ được sắp xếp theo quy tắc ngữ pháp, diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn hoặc một thông báo và có ngữ điệu kết thúc”(6))thì lời hô mỗi quân bài chòi đã “có câu dài hơn, có tình tiết, có đầu có đuôi, trọn vẹn ý nghĩa”, đặc biệt nội dung mở rộng đến những vấn đề xã hội,phản ánh những vấn đề sát thực của đời sống có ý nghĩa liên quan đến quân bài

Bài chòi câu là khi lời hô các quân bài đã trở thành một tác phẩm văn chương, một diễn ngôn nghệ thuật. Quân bài Nhì nghèo được “văn học hoá” thành:

“Một anh để em ra

Hai anh cũng để em ra

Em về em buôn em bán

Em trả nợ bánh tráng

Em trả nợ bánh xèo

Còn dư em trả nợ thịt heo

Chứ anh đừng có lầm em nữa mà anh mang nghèo vì em”

Một tình cảnh khác, đó là phận làm dâu, từ nỗi khổ vật chất đến nỗi khổ tinh thần:

“đêm nằm tôi nghĩ tôi rầu

Làm dâu thiệt khổ từ đầu chí đuôi

Đớn đau, tối mặt,  vùi đầu

Các chị thì sung sướng, riêng con dâu thì mẹ hành

Chê tôi khờ dại không lanh

Mẹ đào, mẹ bới tội tình xót xa

Công trình cha với mẹ sinh đẻ tôi ra

Gả cho con của mẹ lại còn bù của thêm

Phải ở thời chồng vợ trọn niềm

Không nên thì mỗi đứalo tìm chốn thảnh thơi

Không nên thì mỗi đứa mỗi nơi

Tôi ra khỏi cửa để mẹ kiếm nơi sang giàu

Ở chi đây mẹ mắng trước, mẹ chửi sau

Ngày nào mẹ cũng cứ nghèo với giàu mẹ đay!

Rồi là quân Cửu chùa/ông thầy chùa:

“có chồng từ sáu năm nay

Đời tôi sớm chịu đắng cay nhà người

Chồng tôi nay được mười tư

Hàng ngày chẳng thấy nói cười thử xem

Ai làm cho chả chẳng xứng nem

Tuổi xuân bỏ phí đời em đã rồi

Bởi vì cha mẹ kén sui

Đem con gán nợ mới lôi thôi thế này

Em nguyền cắt tóc quy y

Nợ trần em phủi sạch em đi theo chùa…

“Bài chòi câu”đã thực sự là một dạng thức ‘nói thơ”thành bài theo lối tự sự bằng thơ, từ việc dẫn nhập trò chơi, giới thiệu các quân bài, cách chơi, cách thắng, thua của việc chơi.

Sau khi người chơi đã cầm trên tay ba quân bài, anh Hiệu đến trước ống bài nọc, nói:

“Hiệu phát bài đã đủ…

Cho Hiệu thủ bài tì…”

Nhạc trổi lên, anh Hiệu hát chào, dẫn nhập cuộc chơi bằng câu bài chòi ‘giới thiệu trò chơi” như sau:

“ Gió xuân phảng phất nhành tre

Mời bà con cô bác lắng nghe (tui hô) bài chòi

Bài chòi, bài tới là ba mươi lá

Dang tay sớn sá là cái gã ông Ầm

Trợt té xuống hầm là cái  anh Tứ Cẳng

Nước da trăng trắng là cái chị Bạch Huê

Một cổ hai kê là anh chàng Chín Gối

Ba chìm bảy nổi là cái chị Sáu Ghe

Lập bạn, lập bè là cái anh Ngủ Dụm

Lùm đùm ,lụm đụm xách bị đi xin

Là cái anh Nhì Nghèo-đã nghèo mà lại càng khổ

Hay bươi hay mổ là chú Ba Gà

Có ngạnh có ngà là cái anh Tứ Tượng

Giăng màn phủ trướng là cái chị Tam Quăn

Đò đỏ đen đen là Đượng hắn, Đượng(Nọc Đượng) hắn kia kìa…

Ớ bạn mình ơi xin hô con bài đầu…”

Hay:

“Tai nghe trống giục rộn ràng

Bà con cô bác hân hoan tìm về

Hội vui khắp phố cùng quê

Gái trai già trẻ ai cũng mê …bài chòi

Bài chòi vừa hát vừa hô

Vừa nghe thơ phú vừa chờ vận may

Bà con nhận lấy ba quân

Từ con  NọcThược đến nàng Bạch Huê

Nhì Nghèo cô bác đều chê

Lên Xe xuống ngựa ai cũng mê Tám Tiền

Học Trò mê chiếm bảng vàng

Bảy Dày không thiết mấy nàng Ngủ Trưa

Sáu Tiền duyên phận đẩy đưa

Tấm thân Lá Liễu về nơi Cửu Chùa

Trải qua ba bận Tam Quăn

Bờ sông Tứ Cẳng vẫn còn dấu xưa

Bà con ghé lại mà coi

Đêm nằm Gối chiếc mà vẫn lòi ra con, ra con để em Bồng

Bài chòi có ba mươi quân

Tôi đem bỏ vô ống bài nọc,tôi xóc lên rồi tôi rút ra

Trên tay bà con đang có ba

Nghe tôi hô tên  con bài nào mà cô bác trúng thì bài nhà “ăn một con”

Bà con nào ăn một,rồi ăn hai tiếp đến ăn ba

Thì hô to một tiếng “tới”sẽ có quà trao ngay

Như vậy, xét về mặt văn bản thì lời hô/ca bài chòi là một loại hình văn học dân gian mang tình nguyên hợp/tích hợp giữa ba yếu tố: ngôn từ, âm nhạc, điệu bộ tương tác giữa người hô và người nghe.Trong hô hát bài chòi vai trò ngôn từ/diễn ngôn văn học mang tính diễn đạt/biểu hiện đóng vai trò chủ yếu

Khảo sát đặc điểm nội dung lời ca trong hô/hát bài chòi thì lời ca ra đời lúc đầu nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí tại chỗ, nâng đỡ, hỗ trợ trò chơi bởi thay vì chỉ hô tên quân bài thì “lời ca” về quân bài tạo sắc thái văn nghệ nhằm thu hút khả năng suy nghĩ cảm nhận thẩm mỹ của người xem/nghe, đặc biệt những nội dung mang tính văn học ấy được “âm nhạc hoá” càng tác động đến tâm lý tiếp nhận của người chơi-lời ca nhằm mục đích gợi nghĩ, gợi tả dẫn dắt suy đoán người chơi về quân bài sắp ra.Chẳng hạn khi anh Hiệu hô ‘ai đi ngoài ngõ ào ào-hay là…hay là ông…Tượng ổng đạp rào vô đây”.Trong cách nghĩ của người xưa, con vật to lớn đi “ào ào” chỉ có thể suy đoán là con Voi/Tứ Tượng.Vậy câu hô chỉ cần chỉ ra một đặc điểm tiêu biểu của quân bài thì cảm nhận suy đoán của người nghe xuất hiện tạo nên tính hấp dẫn ngay trong lời hô anh Hiệu, rồi dân dà trò chơi tự tạo nên nhu cầu giải “câu đố hoá” của văn bản ngôn từ

2.2-Bài chòi mang đậm tính văn học

Do đời sống xã hội phát triển, nhu cầu thưởng thức văn hoá của cư dân Quảng vùng đất mới ngày càng cao, người nghe/xem bài chòi càng có nhu cầu thưởng thức những bài ca dài hơn nhất là dựa vào cơ sở ngữ liệu dân gian từ kho tàng văn học dân gian như tục ngữ, ca dao, dân ca…đã kế thừa trước đó, cùng với những bài ca phản ánh sinh hoạt hiện tại-những vấn đề của xã hội như cuộc sống lao động, tâm tư tình cảm của con người, cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến trói buộc, đề cao nhân nghĩa, phê phán thói hư tật xấu người đời, ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi tình yêu cuộc sống

        “Gà tơ xào với mướp già

Vợ hai mươi tuổi chồng đà sáu mươi

Ra đường chúng bạn chê cười

Rằng đôi ông cháu kết đôi vợ chồng

Đêm nằm tưởng chiếc gối bông

Giật mình gối phải râu chồng nằm bên”

                (quân chín gối)

Nội dung lời ca mang tính văn học của trò chơi bài chòi được thể hiện ở những chủ điểm sau: 

-Ca ngợi tình yêu lao động: Bài chòi là sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động.Tình yêu lao đọng vốn là đề tài quen thuộc trong ca dao, dân ca thể hiện nhận thức sâu sắc về giá trị của lao động trong đời sống xã hội:

 “Ai ơi chớ phụ nghề nông

Đồng cao đồng thấp ra công cấy cày

Chân bùn tay lấm càng hay

Có khi vất vả có ngày phong lưu

Muốn no thì phải chăm làm

Một hột lúa vàng bao nhiêu hột mồ hôi”

        (quân bài Sáu Hột)

-”Ơ chú kia ơi, đừng có tưởng ,đừng có hòng

Tôi đây có xấu cũng dòng lo chăm

Chớ làm trai mà chỉ biết ăn nằm

Ngồi đâu cũng nói trạng, tôi không lầm mà kết duyên

Có giỏi thì cứ việc làm

Chỉ giỏi cái miệng ai cần đến anh

Có học thì phải có hành

Chớ có nói trạng, thì gà sanh ra chồn”

(quân Lục Trạng/ Chạng)

Ca ngợi quê hương, đất nước, đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, khát khao tự do, bình đẳng

Xứ Quảng Nam từng được học giả Lê Quý Đôn ca ngợi là vùng đất ruộng đồng giàu đẹp, sản vật phong nhiêu, nhâ tình thuần hậu:

“Lắng tai nghe tiếng chuông chùa

Xóm làng rộn rã vào mùa bội thu

Trăng tròn, trăng khuyết trăng lu

Đợi người tình nghĩa cho dù mấy năm”

                            (quân Cửu Chùa)

 

Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm thiêng liêng khắc sâu trong tâm khảm của mỗi con người    -nhất là những con người “mang gươm đi mở cõi”, phải lao đọng vất vả để sống, chiến đấu ở vùng đất mới:

“đất Quảng Nam chưa mưa đà thắm

Rượu hồng đào chưa nhắm đà say

Bạn về nằm nghĩ gác tay

Hỏi nơi mô ơn trượng nghĩa dày cho bằng ta

            Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa

Nghĩ người gối chiếc buổi sương sa lạnh lùng”    

            (quân Chín Gối)

Lời ca bài chòi ca ngợi những người anh hùng có công giữ nước, thể hiện tình yêu đất nước nhân dân sâu sắc, chiến đấu hy sinh nhằm hiệu triệu nhân dân nêu cao lòng yêu nước, hun đúc ý chí đấu tranh bảo vệ Tổ quốc

“bốn chân như bốn cột đình

Vừa đi vừa quạt vừa khinh sự đời

Buộc dây bền chặt như trời

Nhổ tung cây cối bao người thất kinh

Một người sức địch muôn binh

Cùng Bà Trưng, Bà Triệu chiến chinh ngang tàng

Quang Trung sử dụng từng đàn

Giặc Thanh tan tác, huy hoàng chiến công

Việt Nam đất nước anh hùng

Vì yêu Tổ quốc nên cùng lập công”

            (Quân Tứ Tượng-Dái Voi)

Trong cuộc sống hiện nay, bài chòi cũng thể hiện khát vọng”thoát nghèo,làm giàu” xây dựng cuộc sống ấm no, giàu đẹp:

“Bây giờ làng xóm đông vui

Cái nghèo, cái đói đã lùi về sau

Ngày mai vươn tới đẹp giàu

Bên nhau đoàn kết chung tay xây đời”

            (quân Nhì Nghèo)

-Bài chòi ca ngợi đòi sống đạo đức ,nhân nghĩa

Thông qua lời hô/ca bài chòi nhân dân cũng nhắm đến giáo dục con người bằng cách đề cao phẩm hạnh, đạo đức mang đậm tính nhân văn của con người:

  • “Ăn ở sao cho xứng lòng người

Bụng dạ mà bất chính, thiên hạ cười, mà cười thúi râu”

                (quân Ba Gà)

Lời ca chê bai những người ăn ở “hai lòng”, thiếu sự thuỷ chung, thuần hậu:

-”nhớ khi xưa ăn ở trên thuyền

Vì anh bán muối cho nên mặn mà

Rồi em đi bán chợ xa

Em gặp người bán trứng em hoá ra em hai lòng”

        `        (quân Bánh Hai)

Lời ca phê phán những người “siêng ăn nhác làm” chê những người sống luộm thuộm, ăn mặc nhếch mhác, lôi thôi:

 “Làm thân con gái chẳng lo

Ngủ Trưa đứng bóng dậy đo mặt trời

Quần áo thì rách tả tơi

Lấy rơm mà túm mỗi nơi mỗi đùm”

                (Quân Ngủ Rún)

-”Dụm miệng để kể chuyện bày hay

Chuyện ông cũng thúi, chuyện bà cũng chẳng thơm”

                (Quân Ngủ Dụm)

Lời hô hát bài chòi rất quan tâm đến những sự việc vui buồn làng xóm, chuyện ứng xử, đối đãi giữa người với người để thông qua đó-gợi ý tứ để con ngưqời suy nghĩ về đạo đức, lối sống của mình

-”Làm điều lành tránh điều không phải

Đối đãi mọi người tử tế trước sau

Thuận hoà trên dưới có nhau

Tình làng nghĩa xóm đượm màu nhân văn”

                (Quân Cửu Điều)

Ca ngợi truyền thống hiếu học

Xứ Quảng là vùng đất có truyền thống hiếu học.Nơi đây người dân tự hào là vùng đất “địa linh nhân kiệt” vì thế lời hô hát bài chòi cũng hướng đến việc “khuyến học, khuyến tài”:

-”Gái quốc sắc, trai anh hùng hào kiệt

Lâm trận đồ há uý tử sanh

Gái như nàng thiệt đúng gái lành

Trai như Kim Trọng xứng danh sĩ hiền

Dẫu mà anh có xiêu bạt mấy niên

Anh cũng tìm về chốn cũ, kết nguyền phu thê

Anh luôn nhớ mảnh trăng thề

Bên anh đọc sách có em kề quay tơ”

                (Quân Nhứt trò)

Hay câu:

_” Chị ơi em đã trở về

Kinh thành bảng hổ đã đề tên em

Bao năm kinh sử sách đèn

Từ nay vinh hiển, tổ tiên rạng ngời

-em ơi chị có mấy lời

Khuyên em phải biết ai người báo ơn

Gia đình lo áo lo cơm

Ra vô chỉ vẽ thiệt hơn ở đời

Cho em cả một khoảng trời

Để em vùng vẫy đua bơi cùng người

Nghĩa, nhân, lễ, trí em ơi

Cương, thường, trung ,tín ai ngời bảo ban

Giờ em mũ áo xênh xang

Mẹ cha vui sướng, họ hàng tin yêu

Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”

            (Quân Cửu Chùa)

-Bài chòi ca ngợi tình yêu đôi lứa:

Tương tự ca dao, dân ca cả nước, lời ca/hô hát bài chòi luôn thể hiện tình yêu đôi lứa vì đó là đề tài muôn thuở của văn hoá nghệ thuật, tình yêu luôn đấu tranh với nhiều trở lực do định kiến giai tầng, do sự phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội, sự áp đặt của xã hội nam quyền, do hoàn cảnh riêng tư éo le nhiều nỗi.Chính những trở lực đó càng làm cho tình yêu đích thực có tiếng hát, có lời than vãn và cao nhất là khát vọng tựu thành viên mãn

-”Em về cuốc đất trồng cau

Cho anh dặm ké dây trầu một bên

Bao giờ cau nọ lớn lên

Trầu cau hoà hiệp làm nên cửa nhà

Sinh con đẻ cái cùng nhau

Bốn dấu chưn in đậm gốc cau giàn trầu”

                (Quân bài Tứ Cẳng-Hương)

-”Sáng mai thức giấc, vấn điếu thuốc, vác cái cuốc ra đồng

Tai nghe em bậu lấy chồng

Lia điếu thuốc, vứt cái cuốc, giậm chân kêu bớ trời

Ai làm cho loan phượng lìa đôi…”

                 (Quân bài Bánh Hai)

Quan niệm xưa, thời lễ giáo phong kiến-với những quan niệm như “môn đăng hộ đối”, “nam nữ thụ thụ bất thân”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”…là những nguyên nhân làm tan vỡ bao nhiêu đôi lứa…Trong những dịp hội hè, không khí vui tươi ngày tết, anh chị Hiệu thường hát những câu hát vui, thể hiện khao khát lứa đôi có tính vui đùa, lạc quan, yêu đời:

-”Một bậu nói rằng không

Hai bậu nói rằng không

Chớ dấu chân ai đứng ở bờ sông hai người

Hai người thì có bốn chưn

Đó là tứ cẳng bớ nàng, bớ anh”

Hay hô hát táo bạo hơn:

-”Anh thì nói không thương

Chị thì cứ chối quanh chối co

Tui nói thiệt cho bà con biết chuyện quanh co thế này…

Rằng tối hôm qua tôi đi ra gò

Tôi thấy anh thương chị…bốn cái giò nó tréo ngoe…”

                (Quân Tứ Cẳng)

-”Con cu nó ăn đậu ăn mè

Nó ăn chi của chị mà chị đè con cu tôi

Hắn ăn mè ăn đậu của tôi

Đến anh tôi cũng xử chớ con cu tôi cứ đè”

                (Quân Chín Cu)

-”Xu xoa chị bán mấy đồng

Chị ngồi chị để cái mồng chị ra

Con gà hắn tưởng hột khổ qua

Nó mổ cái trốc chị la quó làng…”

                (Quân Bạch Huê)

3-2-Đặc điểm thi pháp lời hô/ca bài chòi

Xét trên bình diện thi pháp văn học dân gian, việc tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật của lời hô/ca bài chòi như thể thơ, giọng điệu, cấu trúc ngôn ngữ, những biện pháp nghệ thuật là hết sức quan trọng vì “thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện” (7)

Trước hết, nếu trong thơ cổ điển thuộc văn học thành văn thời Trung đại thiên về điệu ngâm thì ca từ của bài chòi câu thiên về thơ điệu nói-thơ trữ tình dân gian điệu nói, đúng như các nhà nghiên cứu thi pháp nhận định “trong thơ cổ điển, người nào càng gần với dân gian thì trong thơ có hình thức điệu nói.Càng xa dân gian thì càng gần với điệu ngâm (thơ Hồ Xuân Hương, Tú Xương là thơ điệu nói)” (8)

-Về thể thơ

+ Thể lục bát

Có thể thấy lục bát là thể thơ phổ biến nhất,trước hết là các câu hô trong “ứng tác” tại Hội bài chòi (còn gọi là hát “kiến tại”) của anh, chị Hiệu của nghệ thuật trò chơi bài chòi (Bai Choi games) và sau là bài chòi biểu diễn(Bai Choi performance) của các diễn viên sân khấu ca kịch Bài chòi

Bài chòi lục bát gồm một câu sáu (lục) và một câu tám (bát):

“Làm thân con gái chẳng lo

Ngủ trưa đứng bóng dậy đo mặt trời”

                (Ngủ Trưa)

“”Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng đậu, tú tài cũng không”

                (Nhứt Trò)

+Thể lục bát biến thể:

Trong hô hát bài chòi có khá nhiều câu lục bát biến thể tức có sự thay đổi về vần-như vần bằng hiệp giữa  từ/chữ số 6 của câu sáu không rơi vào từ/chữ số 6 của câu tám mà rơi vào từ/chữ số 4 của câu tám

-” Dụm miệng kể chuyện hai, ba

Chuyện ông, chuyện bà kẻ thúi ,người thơm”

                        (Ngủ Dụm)

Câu lục bát biến thể có sự thay đổi ở số từ các dòng sáu hoặc tám.Biến thể câu sáu (câu lục);

“Chú giỏi sao chú chẳng đi thi

Cứ ăn xó bếp ngủ thì chuồng trâu

Chú trạng không xứng trạng tui có hầu cũng uổng công”

                        (Lục Trạng/Chạng)

-Biến thể câu Tám (câu bát):

“Đói lòng ăn hột chà là

Trước mặt năm sáu đứa bạn, nuốt vô thời đắng mà nhả ra là bạn cười”

                        (Sáu Hột)

Câu lục bát biến thể cả câu Sáu lẫn câuTám:

“Nước trong xanh chảy quanh hang dế

Sách vở anh dùi mài, vậy mưu kế anh đâu?”

                        (Nhứt Trò)

Hoặc biến thể chung:

- “Nòi tròn thì úp vung tròn

Nồi méo thì úp vung méo

Bạn ở làm sao cho khôn cho khéo

Vung méo úp nồi tròn”

                (Thất Vung-Nhọn)

-Thể song thất lục bát:

Mặc dù thể thơ này rất khó trong việc hô/hát bài chòi vì nó “luôn bị tình trạng trục trặc, rời rạc của hai câu thất (diễn tiến giai điệu có tính chu kỳ) .Do điệu hát vừa vào nhịp êm ả ở hai câu thơ lục bát, bỗng tiếp theo gặp ngay sự thay đổi tiết tấu, cao độ và vị trí của thanh điệu chủ ở hai câu song thất lục bát vì phải theo sự thay đổi của tiết thơ.Rồi cứ như thế, đoạn hát bị lập lại nghe rất giống nhau, rất nhàm tai” (9).Tuy vậy lời hô vẫn sử dụng thể thơ này vì rất cần cho những lúc chuyển điệu:

-”Có thằng cha nghênh ngang trời đất

Cứ mặt mày đỏ gắt tối ngày

Ầm ầm khi tỉnh khi say

Ông chê bà trách chầu rày xin thôi”

                (   Ông Ầm)

+Các thể thơ khác:

Lời hô/ca bài chòi hầu như sử dụng tất cả các thể thơ: thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ…thơ tự do nhiều chữ (như câu thơ văn xuôi).Sự hiệp vần của các thể thơ khá tự do chứ không nhất thiết phải hiệp vần như lục bát, lời hô/ca có sự nhất quán về”vần”khá lỏng lẻo (cưỡng vận)chỉ hướng đến sự hài hoà của nhạc điệu chứ không bó buộc cứng nhắc

 

-“-Chồng nằm chính giữa

Hai vợ nằm hai bên

Lấy chiếu đắp lên

Hô là ba bụng”

                (Ba Bụng-Bánh Ba)

Như vậy, câu hô/ca bài chòi từ lục bát đến lục bát biến thể rồi thâu thái cả song thất lục bát, thơ ba câu, bốn câu, năm câu…đến lối nói thơ tự do dài hơi đúng với quá trình văn học hoá “bắt đầu từ một nhu cầu giải trí, nảy sinh một nhu cầu thẩm mỹ là bước khai sinh của hô bài chòi”(10)

-Về kết cấu:

Lời hô/ca của bài chòi thường có kết cấu độc thoại/đơn diễn-một vế hô/hát tức một vai kể/diễn của một người trong vai anh Hiệu hoặc chị Hiệu:

-”Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi

Trời làm đôi lứa đôi nơi

Chàng than thở phận, thiếp bồi hồi duyên”

                (Bánh Hai)

-”Ước chi em chưa có chồng

Anh về thưa với cha mẹ mang rượu nồng đón em

Xui cho đôi lứa thuận tình

Dẫu có ăn hột muối nằm đình cũng ưng”

                (Sáu Hột)

Lời ca thường được sáng tác trên một khuôn mẫu nhất định-điều này chúng tôi sẽ đề cập đến khi bàn về chuyện “ứng tác” tại chỗ của người hô-, khuôn mẫu đó là những mô típ (motif) trong các sáng tác thơ ca dân gian, ca từ các làn điệu dân gian-nhất là trong văn chương-nghệ thuật truyền khẩu như mô típ “bạn ơi”…; “bạn về”…;”ngó lên…ngó xuống”; “chầu rày….một mai”; “ra đi…về lại”; “còn duyên…hết duyên”, “ngồi buồn…”; “chiều chiều…”; “đêm nằm…”…

Đồng thời với lời ca một vai/một vế là lời ca hai vế theo dạng “hỏi-đáp”, “đố -giải”, “kẻ thắc mắc-người giải trình, phân bua” thường ứng dụng khi có hai người hô/hát-trong vtrường hợp sử dụng làn điệu hò khoan thì nhiều  người có thể hò xô “khoan hố hợi hò khoan” theo người hò xướng:

 

“Con chi mỏ đỏ lông vàng

Đậu trên cành khế hỏi nàng giống chi?

Giống chi em còn hỏi giống chi

Đậu trên cây khế tức thì giống chim

Chẳng tin em hãy nhìn xem

Nó là chim đỏ mỏ lại thêm lông vàng”

            (Đỏ Mỏ)

-Về phương thức giải mã quân bài:

Lời ca bài chòi thường được ứng tác, sử dụng nguồn bài bản được trao truyền từ trước mà những câu hô/ hát ấy luôn có xu hướng “câu đố hoá” buộc người nghe xét đoán, suy đoán con bài sắp ra là con bài gì?.Có nhiều phương thức giải mã quân bài như:

+Phương thức đồng âm-đồng nghĩa

Đây là phương thức hết sức đơn giản-nghĩa là cứ hô/hát về sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó có nhắc đến tên quân bài-lập tức người nghe biết được tên quân bài:

 -”Mất con gà em la cả xóm

Ba bốn ngày họ đoán không ra…”

                (Ba Gà)

Hay:

_”Qua sông thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”

                (Cửu Chùa)

Phương thức này thường có “đáp án” sớm, ví vậy thiếu đi sự “ức chế thời gian” để người chơi suy đoán, khiến việc hô/ hát thiếu hấp dẫn.Nếu anh.chị Hiệu cứ lạm dụng phương thức này, trò chơi/trò diễn sẽ kém vui…

+Phương thức đồng âm dị nghĩa:

Phương thức này luôn tạo sự gợi mở, liên tưởng của người nghe về nghĩa (và trường nghĩa) của quân bài tương đối xa hơn, lại gợi nhiều điều để so sánh, đối chiếu các ý nghĩa để suy đoán về tên quâ bài:

 -”Thời nay võ nghệ huyên thuyên

Không ai gióng được đường quyền ngày xưa”

                    (Gióng)

Trong trường hợp trên-thì gióng đây là “gióng đường quyền” liên quan đến võ thuật-gióng đường quyền đồng âm với gióng để gánh.

    -”Em chỉ chỗ mô mà mưa ba năm không ướt, nắng chín tháng không khô

Em chỉ chỗ mô có huê, có hoa cho anh trỉa hột, anh trỉa vô là mọc liền”

                            (Bạch Huê)

+Phương thức miêu tả đặc điểm, tính chất của nhân vật/sự vật/sự việc…

Phương thức này gần giống với phương thức tạo lập câu đố dân gian khi miêu tả đặc điểm, tính cách, tính chất của sự vật, hiện tượng để gợi sự liên tưởng, sự hình dung đến “đối tượng”  yêu cầu phải giải mã của câu đố”

-”Mình rồng mặc áo mã tiên

Ngày ba bốn vợ tối nằm riêng một mình”

                        (Ba Gà)

Hay:

-”Con quan gọi là công tử

Con  một, con ngoan, con giỏi được gọi là quý tử

Vậy ta thử hỏi nàng

Con vua tước hiệu rõ ràng là chi? 

                        (Thái Tử)

4.2-Về cách ứng tác lời hô/hát bài chòi

Lời ca bài chòi luôn hấp dẫn ở tài nghệ của anh/chị Hiệu trong viếc ứng tác tại chỗ, lấy bối cảnh giao đãi tại chỗ hay ngữ cảnh tương tác giữa người cầm chịch cuộc chơi bài và người chơi ngay tại nơi diến trò

Trước hết diễn trình “văn học hoá” của anh Hiệu luôn diễn ra trên cơ sở anh đã thu nạp khá đầy đặn kho ngữ liệu truyền khẩu về các quân bài-tức bài hô các quân bài-đã từng được nghe, đã từng hô trong quá khứ trước đó.Như chúng tôi từng đề cập đến việc sử dụng các mô-típ trong các tác phẩm thơ ca dân gian cùng với kho ngữ liệu văn học dân gian địa phương, qua đó anh/ chị Hiệu vận dụng các “bài bản” đã thuộc, thêm thắt những tình tiết mới phù hợp với tình huống giao đãi, nhu cầu thể hiện đề tài thiết thực của cuộc sống mới như khen chuyện “người tốt việc tốt”, phê phán cười giễu cái xấu, cái lạc hậu, cái xấu, cái ác…Chẳng hạn đây là màn hát đôi của anh/chị Hiệu phê phán chuyện say sưa:

Nam:

“Này em ơi -em đừng có trách tôi say

Ngày xuân ngày tết, chúc tụng nhau phải có tí  cay tí nồng

Mặc cho ai đo ai thổi nồng độ cồn

Chứ-hiu hiu gió thổi đầu non

Mấy thằng uống rượu là con Ngọc Hoàng

Nam vô tửu như kỳ vô phong

Chứ đàn ông mà không bia, không bọt đúng là cái hàng bỏ đi…”

Nữ:

“Anh ơi sách có câu làm trai cho đáng nên trai

Xuống đông ,đông tỉnh lên đoài, đoài yên

Mấy ai khen anh cờ bạc, anh rượu chè

Say vô anh cứ lè nhè bê tha

Đêm tới ngày anh vất vưởng như con ma

Anh sống mà như chết thì chẳng thà…chẳng thà…”

Nam:

“-Thà làm răng…?

Nữ:

-”Thì chẳng thà tôi đem…quăng!”

                    (Tam Quăn)

Khi hô hát đơn, tài nghệ của người hô là dựa trên việc ghi nhớ các bài bản đã hô về một quân bài-thường một quân bài có hai đến ba bài hô-nên việc chọn lựa của anh/ chị Hiệu rành nghề là không khó mấy.Người hô ngoài việc ghi nhớ tốt những bài bản đã sẵn thì ctài năng là việc cập nhật những vấn đề “thời sự” của địa phương như chuyện làm ăn, chuyện vui buồn của cộng đồng làng xóm, chuyện ăn, ở ứng xử giữa người với người, ngợi ca người tố việc tốt, phê phán thới hư tật xấu…

“Ra đường sợ chuyện giao thông

Say vô cầm lái như rồng thăng thiên

Say vô vận tốc thằng điên

Say vô phủỉ cẳng leo lên bàn thờ

Say vô sớm đoàn tụ với ông bà

Ngồi trên nóc tủ ngắm gà, ngắm gà khoả thân”

                    (Ba Gà)

Trường hợp hô hát đôi,thường  giữa anh và chị Hiệu chắc chắn đã chuẩn bị bài bản từ trước, nếu việc hô/hát đối đáp diễn ra ngẫu hứng, ngẫu nhiên thì thực họ là những nghệ sĩ đích thực, vừa sáng tác/ứng tác vừa biểu diễn trong trò chơi/trò diễn bài chòi

  1. Về âm nhạc bài chòi

-Về việc hô hay ca?

Cái tên hô bài chòi-các nhà nghiên cứu cho rằng “lâu nay, “hô bài chòi thường bị hiểu lầm “là bắt nguồn từ tên “con bài” trong bộ bài trùng với việc” hô”tên con bài trong trò chơi bài chòi.Trong trò chơi bài chòi thì việc “hô” không hoàn toàn chỉ là việc tuyên bố tên con bài, mà là một thể loại trong diễn xướng dân gian xưa gồm: hò,hố,hô, lí…”Hô” là thể gốc trong ca nhạc phù thuỷ, có lẽ do bắt nguồn từ việc “hô phong hoán vũ” (kêu mây gọi gió).Rồi từ đó hình thành thể loại hô bài trong dân ca Miền Nam Trung Bộ. “Hô Bài” không phải là “hô tên con bài” như hiểu nhầm sau này, mà là hô một bài vè.Giọng điệu hô trong âm nhạc phù thuỷ và giọng điệu hô bài nguyên sơ mang sắc thái tấu nhiều hơn là ca hát.Cũng xin nói thêm rằng-trong diễn xướng dân gian, các thể “hò, hố,hô được áp dụng cho những điệu diễn xướng tự do, chưa có kết cấu khúc thức và các thể hát, lý, ca được áp dụng cho các ca khúc dân gian” (11)

Mở đầu cho việc hô/hát là phần “ nói lối”.Nói lối là nói có vần, có lối những bài thơ dân gian.Nói lối trong diễn xướng bài chòi là: “hát một nét giọng nào đó và hát một cách tự do không nhịp điệu, không tiết tấu.Tuy nhiên, không phải tự do thế nào cũng được mà cách ngân các âm dài ngắn, to nhỏ, trầm bổng phải tuỳ thoe sự diễn đạt tình cảm của nội dung” (12).Mở đầu bài chòi không phải lúc nào cũng nói lối mà có nhiều cách khác nhau như:

-Nói lối xuống hò vào hát

-Nói lối không xuống hò vào hát

-Không nói lối vào hát ngay

-Nói thường-không nói lối vào hát

Trong đó cách nói lối xuống hò vào hát thường có trong bài chòi đơn diễn(một anh Hiệu), các cách còn lại thường có trong song diễn (anh và chị Hiệu) và trong sân khấu ca kịch bài chòi. “Xuống hò” được hiểu là phần tiếp của nói lối xuống hò đóng vai trò để lấy hơi, để ổn định điệu thức hoặc để “kết đoạn” sau một đoạn hát.Mục đích xuống hò trong bài chòi là:dừng ở âm chủ điệu sau đoạn nói lối; dừng ở âm chủ điệu ở đoạn kết sau một đoạn hát; dừng kết đoạn và cũng để anh Hiệu nghỉ lấy hơi; thể hiện tình cảm một cách sâu sắc, đậm đà hơn.Hát bài chòi từ một lối chơi bài dần dần trở thành một phương thức diễn xướng dân ca

-Về làn điệu bài chòi

Trong quá trình diễn xướng lâu dài, âm nhạc bài chòi đã có bước tiến quan trọng là thâu thái, tiếp biến các làn điệu của dân ca, nhạc lễ dân gian để các làn điệu ấy  thành các làn điệu đặc trưng của ca hát bài chòi.Từ chỗ “vốn chỉ với một điệu thức sơ khai, chỉ hô theo nhịp trống, không có nhạc đệm, đã phân hoá thành 4 điệu thức cơ bản: cổ bản, xàng xê, xuân nữ, Hồ quảng, dựa vào các điệu mang tên ấy của nhạc lễ dân gian.Về sân khấu, từ một diễn viên có thể kiêm nhiều vai,ăn mặc giản đơn, tiến đến phân vai và trang phục theo nhân vật” (13).Cũng theo nhạc sĩ Hoàng Lê, âm nhạc bài chòi cho đến ngày nay có nhiều làn điệu-làn điệu được hiểu là yếu tố cơ bản trong cấu trúc chỉnh thể dân ca có tính ổn định , bền vững, đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, chi phối, điều tiết lời thơ và diễn xướng-bìa hòi có 6 làn điệu chính và 5 biến điệu phụ: “Sáu làn điệu chính là: xuân nữ cổ, điệu xuân nữ mới, điệu xàng xê luỵ, điệu xàng xê dựng, điệu cổ bản và điệu Hồ quảng.Năm biến điệu phụ gồm: xuân nữ cổ, xuân nữ chuyển pha, xuân nữ chuyển mi, cổ bản chậm và cổ bản xóc” (14)

Nhạc sĩ Trần Hồng thì cho rằng-Bài chòi có 6 làn điệu” “xuân nữ cũ, xuân nữ mới, cổ bản, hò quảng, xàng xê cũ (luỵ), xàng xê mới (dựng), khi hát xàng xê luỵ là bậc rề, chuyển hát xàng xê dựng, nhạc lên một tone là mi, xàng xê dựng có tính giận dữ, mạnh mẽ. Giai điệu của các làn điệu bài chòi là những câu nhạc hoàn chỉnh, có tiết tấu, giai điệu, âm thanh sắp xếp, trật tự riêng biệt, không có nghệ thuật dân gian nào ở Việt Nam có được”” (15)

Nhạc sĩ Trương Đình Quang cho rằng, tính chất của các làn điệu có ít nhiều khác nhau “Bài chòi xuân nữ-tha thiết trữ tình, thích hợp với lối tự sự, giãi bày tâm trạng, lối đan ghép chất liệu đem lại giọng điệu mới, tạo nên sự điều hoà tính chất u buồn, mềm mại bên cạnh tính chất rắn rỏi ,tươi mát.Bài chòi Nam xuân trong sáng, khoẻ khoắn với cách pha trộn tiết tấu, kết hợp ngữ khí có thể diễn tả tính chất đểu giả, kệch cỡm.Bài chòi xàng xê thì buồn bã, bi thảm, khi dựng lên thì mang tính chất khẳng khái, đấu tranh.Bài chòi Hồ quảng thì tươi tắn phẫn khởi” (16)

Diễn xướng nghệ thuật bài chòi ở Quảng Nam-Đà Nẵng  về mặt âm nhạc luôn là một hệ thống mở.Ngày nay bài chòi ngoài việc ngoài các làn điệu đăc trưng cơ bản còn thâu nhận, sử dụng các điệu hò, điệu lý, điệu vè…trong kho tàng dân ca xứ Quảng, các sáng tác làn điệu mới của sân khấu ca kịch bài chòi (làn điệu Đất Hồ lòng Hán, Áo tân khoa; Lía mo xảo; Ghẹo vàng anh;Lía phấu; Vọng Kim lang…-của Hoàng Lê; Đoạn trường; Vượt tường hoa; Trách hoa; Dạ đơn hành…của Cung Nghinh; Tình duyên cung oán của Văn Cận…) kể cả các ca khúc mới có chất liệu dân gian, nhất là dân gian xứ Quảng

Làn điệu bài chòi luôn ca ngợi chân-thiện -mỹ, phê phán cái ác, cái xấu, cái lạc hậu-nội dung lời hát luôn tìm kiếm “sự thật biết cười” (U.Berto Eco)với diễn trình “văn học hoá” bài chòi đã “biến một cuộc đỏ đen thành một thú chơi văn chương tao nhã” (TrầnThuỳ Mai) (17)…

 

Nguồn dẫn:

  1. Ngô Đức Thịnh, Prank Prochan (chủ biên-2005)-Thuật ngữ Folklore-Viện nghiên cứu văn hoá-NXB KHXH,Hà Nội 2005 tr.71

  2. Nguyễn Lê Uyên-Tiến trình phát triển của bài chòi-văn chương Việt-vanchuongviet.org/index.php?.comp=tacpham&action=detal&id=8151

  3. Trương Đình Quang (1990)-Lịch sử kịch hát bài chòi-bản đánh máy 57 trang -tư liệu riêng của tác giả (đã mất) chưa xuất bản tr.3-1990

  4. Trương Đình Quang (1990) Lịch sử kịch hát…Tư liệu đã dẫn,tr.4

  5. Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012)-Bài Chòi xứ Quảng-NXB Lao Động, Hà Nội 2012 tr.39

  6. Nguyễn Thị Ly Kha (2007)-Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản-NXB Giáo Dục,Hà Nội 2007 tr.43

  7. Chu Xuân Diên (2000)-Văn học dân gian Việt Nam-NXB Giáo dục, Hà Nội 2000-dẫn theo Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang-Bài chòi xứ Quảng-NXB Lao Động H..2012 tr.55

  8. (8) Đại học Huế (1997)-Giáo trình thi pháp học-NXB Đại học Huế, Huế 1997 tr.55

  9. (9) Hoàng Lê (2001)-Lịch sử âm nhạc và ca kịch bài chòi-Sơ VH-TT Bình Định xb.Quy Nhơn 2001

  10. (10)Phan Ngạn (1993)-Tìm lại nguồn gốc của sân khấu bài chòi-Ca kịch bài chòi, những vấn đề nghệ thuật,Viện sân khấu xb, Hà Nội 1993 tr.96

  11. (11)Mịch Quang-(1993)-Bài chòi hô hay ca?-Ca kịch bài chòi-những vấn đề nghệ thuật-Bộ VH-TT, Viện sân khấu xb,H.1993 tr.25, 26

  12. (12)Đinh Thị Hựu-Trương Đình Quang (2012) -Bài chòi xứ Quảng-NXB Lao Động,h.2012 tr. 39

  13. (13)-Mịch Quang (1993)-Sách đã dẫn…tr.26

  14. (14)Hoàng Lê-Dẫn theo Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012) sách đã dẫn…tr.38.

  15. (15)Trần Hồng (2021)-Đặc trưng nghệ thuật bài chòi Quảng Nam-Đà Nẵng-Đà Nẵng 25 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian-NXB Đà Nẵng 2021 tr.421

  16. (16)Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012) sách đã dẫn…tr38

  17. (17)Trần Thuỳ Mai ((2003)-Dân ca Thừa Thiên-Huế-NXB Thuận  Hoá, Huế 1993 tr.196







 

VAI TRÒ CỦA BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG XỨ QUẢNG

VAI TRÒ CỦA BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG XỨ QUẢNG

VAI TRÒ CỦA BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG XỨ QUẢNG

 

Trần Văn An

Phó Chủ tịch Hội VNDG thành phố Đà Nẵng



 

Tóm tắt

Trò chơi Bài chòi hoặc nghệ thuật Bài chòi là một di sản văn hóa phi vật thể độc đáo, lâu đời của xứ Quảng nói riêng, khu vực miền Trung từ Quảng Bình cũ nay là Quảng Trị đến Bình Thuận cũ nay là Lâm Đồng. Ngày 7/12/2017, nghệ thuật Bài chòi đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

    Bài chòi lưu dấu bên trong bề dày lịch sử - văn hóa của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, là loại hình nghệ thuật đa dạng, tổng hợp nhiều thành tố văn hóa nghệ thuật và phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa địa phương. Với các vai trò to lớn về thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí cộng đồng, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa, giao tiếp và cố kết cộng đồng, thể hiện và bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, phổ biến và giao lưu văn hóa tạo cho Bài chòi có sức sống bền bỉ và hiện đang được phục hồi, bảo tồn, phát huy hiệu quả ở nhiều địa phương của xứ Quảng.

 

    Từ khóa: Nghệ thuật Bài chòi, xứ Quảng, bảo tồn, phát huy.

 

Đặt vấn đề

    Bài chòi hoặc nghệ thuật Bài chòi là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, lâu đời của xứ Quảng nói riêng, vùng Trung Bộ kéo dài từ Quảng Bình cũ nay là Quảng Trị đến Bình Thuận cũ nay là Lâm Đồng nói chung. Di sản này đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại phiên họp lần thứ 12 ngày 7/12/2017. Trong hồ sơ đề cử đã xác định: “Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là một loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học… nghệ thuật Bài chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong cộng đồng làng xã. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục trong nghệ thuật. Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sự hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu và phổ biến khắp miền Trung. Vì thế mà sinh hoạt Bài chòi trở thành môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật đồng thời cũng là nơi bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền.  Theo các định nghĩa này có thể xác định nghệ thuật Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian có sự kết hợp không thể tách rời giữa trò chơi và diễn xướng cùng một số thành tố văn hóa nghệ thuật khác. Và như vậy tên gọi nghệ thuật Bài chòi có nội dung trùng với tên gọi Bài chòi dân gian hay dùng. Đã có nhiều bài viết, chuyên đề nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc, chức năng, các thành tố văn hóa nghệ thuật liên quan đến Bài chòi. Trong chuyên đề này tôi muốn tiếp cận một số vấn đề về vai trò của Bài chòi trong đời sống văn hóa cộng đồng xứ Quảng.

    Xứ Quảng trước đây có phạm vi rộng kéo dài từ phía Nam đèo Hải Vân đến núi Đá Bia thuộc Phú Yên cũ, nay là Đaklak. Sau nhiều lần thay đổi địa giới đến giữa thế kỷ 19 thời Tự Đức thứ 5 (1852) thì Quảng Nam - Đà Nẵng có địa bàn tượng tự như thành phố Đà Nẵng hiện nay. Nói đến xứ Quảng hiện nay là chúng ta nói đến xứ Quảng ở địa bàn hẹp tương đương với vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng. Và như thế khi đặt vấn đề vai trò của Bài chòi trong đời sống văn hóa cộng đồng xứ Quảng là chúng ta tiếp cận xứ Quảng với phạm vi địa bàn Quảng Nam và Đà Nẵng ngày nay hoặc nói đúng hơn là thành phố Đà Nẵng mới hiện nay. Và trong không gian đấy, Bài Chòi xứ Quảng mang những đặc trưng riêng biệt so với Bài Chòi Bình Định hay Phú Yên. Sự khác biệt này nằm ở giọng điệu (thổ ngữ Quảng), làn điệu (sử dụng nhiều Hò khoan, Hát nhân ngãi hơn là chất Tuồng bi hùng của Bình Định) và phong cách diễn xướng (thiên về sự hóm hỉnh, ứng tác đời thường). Nếu Bài Chòi Bình Định chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Tuồng (Hát Bội) do đây là đất Tuồng, thì Bài Chòi xứ Quảng lại mang đậm chất trữ tình của các điệu hò sông nước (sông Thu Bồn, Vu Gia).

Để thực hiện chuyên đề nghiên cứu này, chúng ta cần tiếp cận dưới góc nhìn đa chiều:

Thứ nhất tiếp cận dưới góc độ Trò chơi học để phân tích cơ chế vận hành, tính ngẫu nhiên và yếu tố giải trí.

Thứ hai: tiếp cận dưới góc độ Dân tộc nhạc học: Phân tích các làn điệu, lời hô và vai trò của âm nhạc.

Thứ ba: tiếp cận dưới góc độ Xã hội học văn hóa: Phân tích chức năng cố kết cộng đồng và bảo tồn bản sắc.

Và dưới các góc độ đa chiều đó, vai trò của Bài chòi đã được thể hiện trong nhiều mặt của đời sống người dân xứ Quảng như:

  1. Vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí

Theo hồ sơ đệ trình UNESCO và các nghiên cứu chính thống, Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ là một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Nó là sự kết hợp biện chứng giữa các thành tố: Âm nhạc, Thơ ca, Diễn xuất, Hội họa và Văn học dân gian. Khác với các loại hình diễn xướng thính phòng, Bài Chòi sinh ra và tồn tại trong không gian làng xã. Thuật ngữ “Nghệ thuật Bài Chòi” và “Bài Chòi dân gian” thường được sử dụng thay thế cho nhau, phản ánh bản chất kép của di sản này:

Phần “Bài”: Yếu tố trò chơi thẻ bài, chịu ảnh hưởng từ trò chơi Tổ Tôm, Tam Cúc nhưng được bản địa hóa triệt để.

Phần “Chòi”: Không gian kiến trúc tạm thời nhưng mang tính biểu tượng, nơi diễn ra hoạt động.

Vì vậy, vai trò đầu tiên, dễ nhận biết nhất của Bài chòi trong đời sống cộng đồng của người dân là vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí. Tên gọi Bài chòi hoặc chơi Bài chòi cũng cho ta thấy được chức năng vui chơi giải trí này của Bài chòi. Tuy nhiên đây không phải là trò chơi thông thường, trò chơi thiên về ăn thua, bài bạc mà là một trò chơi mang tính nghệ thuật, là một loại trò chơi có sự kết hợp của nhiều thành tố văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, diễn xướng, văn học dân gian… Có thể ban đầu đây chỉ là trò chơi đơn thuần như bao trò chơi khác. Dần dà các cộng đồng dân cư tại chỗ đã dung nạp, kết hợp kể cả sáng tạo nên những thành tố văn hóa nghệ thuật khác nhau để hình thành nên trò chơi, trò diễn Bài chòi đặc sắc truyền lại cho đến ngày nay. Các tác giả Hoàng Chương, Nguyễn Có đã có nhận xét xác đáng về chức năng vui chơi giải trí này của Bài chòi: “Bài chòi là một trò chơi vui xuân mang đậm tính tập thể và tính dân gian. Tuy trong cuộc chơi có tổ chức ăn tiền nhưng cái cốt lõi là để mua vui… Người tham gia “đánh Bài chòi” là tham gia sinh hoạt văn hóa, tham gia trò diễn xướng dân gian mang tính sân khấu rõ nét…

Vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của cộng đồng này của Bài chòi thể hiện rõ nhất trong các dịp hội hè, lễ Tết, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán. Vào dịp này hầu như làng xã nào cũng tổ chức hội Bài chòi và Bài chòi trở thành là một trò chơi giải trí đầu năm gắn với những ước mong về những điều hanh thông, tốt đẹp trong dịp năm mới. Ở đây, Bài Chòi không còn là trò chơi theo nghĩa phương Tây, mà là nghi thức. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, ranh giới giữa chơi và thờ cúng rất mong manh. Việc tham gia hội Bài Chòi đầu xuân thực chất là một hành vi “đánh cược với số phận” trong một không gian thiêng (đình làng, dịp Tết). Người nông dân thông qua sự may rủi của con bài để trắc nghiệm vận mệnh của mình trong năm mới. Do đó, ngoài tính “giải trí”, Bài chòi còn là một cách trấn an tinh thần cho cộng đồng trước thiên nhiên bất định. Vì vậy trong những hội chơi Bài chòi đầu năm mới người ta thường không đưa vào các con bài có thể liên tưởng đến những điều không tốt như ông ầm, thái tử, đỏ mỏ. Ông ầm có thể liên tưởng đến té ngã “Đang ngồi bực lỡ buông câu, Bổng đâu té xuống vực sâu cái ầm”. Thái tử vì có từ “tử” không tốt. Đỏ mỏ là từ dân gian chỉ những người hay cãi cọ, gây gỗ. Đây là những con bài có tên gợi liên tưởng đến những điều kiêng cữ đầu năm nên người ta tránh đi.

Bảng phân tích cấu trúc biểu tượng các con bài bị kiêng kỵ trong Bài Chòi xứ Quảng

Tên con bài

Nghĩa đen/Hình ảnh

Nghĩa biểu tượng (Dân gian liên tưởng)

Cơ chế Kiêng kỵ (Phân tích Khoa học)

Ông Ầm

Người té ngã

Tai nạn, rủi ro, sự sụp đổ

Mô phỏng tượng hình: Nỗi sợ về sự mất an toàn vật lý trong lao động nông nghiệp.

Thái Tử

Con vua

Chết chóc (do từ “Tử”)

Đồng âm khác nghĩa: Sự chi phối của yếu tố Hán-Việt trong tâm thức sợ cái chết.

Đỏ Mỏ

Mỏ (miệng) đỏ

Cãi vã, thị phi, bất hòa

Hoán dụ: Cái miệng là nguồn gốc tai họa (“Họa tòng khẩu xuất”). Ước vọng hòa hợp xóm làng.

 

Tính chất vui chơi giải trí lành mạnh của Bài chòi còn được thể hiện ở chỗ đây không phải là trò chơi hơn thua, sát phạt. Đây là một trong những đặc điểm cốt lõi làm nên giá trị của Bài Chòi chính là sự chuyển hóa từ tính chất “sát phạt” của cờ bạc sang tính chất “thưởng thức” của nghệ thuật. Trong hồ sơ UNESCO đã xác định: “Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sự hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu”. Sự chuyển hóa này diễn ra thông qua vai trò của “Anh Hiệu”, “Chị Hiệu” (người hô thai). Nếu trong các trò chơi bài lá thông thường, việc xướng tên con bài chỉ mang tính thông báo, thì trong Bài Chòi, việc xướng tên được nâng lên thành nghệ thuật. Người chơi không chỉ chờ đợi kết quả thắng thua, mà họ chờ đợi cách thức con bài xuất hiện thông qua lời ca tiếng hát.

Việc hơn thua về tiền bạc chỉ mang tính chất tượng trưng, lấy vui chơi làm gốc vì không có ai trở nên nghèo hơn, khổ hơn vì chơi Bài chòi mà như đã nói ở trên đây là trò chơi nhằm tìm kiếm niềm vui và sự may mắn đầu năm, nhằm thưởng thức hoạt động hô hát để hòa mình vào không khí náo nức, tươi mới của mùa xuân năm mới.

  1. Vai trò thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa

Hưởng thụ và sáng tạo văn hóa là nhu cầu cơ bản, cốt lõi của con người, tuy hai nhưng là một. Hưởng thụ nhưng đồng thời cũng luôn tìm tòi, sáng tạo để làm cho việc hưởng thụ ngày càng nâng cao hơn, để đời sống ngày càng phong phú, đa dạng hơn, mang “tính người hơn”. Đây là quá trình phát triển không ngừng nghỉ để con người ngày càng hoàn thiện và mang tính nhân văn ngày càng cao. Ở khía cạnh này ta thấy rằng Bài chòi là một hoạt động tổng hợp nhiều thành tố từ vui chơi giải trí đến văn hóa nghệ thuật giúp con người tìm thấy ở đây một môi trường, một hoàn cảnh để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng.

Giống như những cộng đồng chủ thể ở các vùng miền khác trong cả nước, cộng đồng chủ thể văn hóa xứ Quảng vốn gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, vì vậy cả năm quần quật với hoạt động cày cấy, chăm sóc ruộng đồng, vườn tược hoặc bận rộn với các công việc chăn nuôi gia súc, thủ công gắn với nông nghiệp. Công việc đồng áng chỉ được tạm nghĩ vào các ngày lễ tết, hội hè hàng năm. Đây cũng là dịp để cá nhân, cộng đồng nghỉ ngơi vui chơi, hưởng thụ văn hóa theo tập quán “tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Và hơn ở đâu hết Bài chòi chính là nơi để mọi người gặp gỡ, vui chơi và hưởng thụ văn hóa. Đến với Bài chòi, cùng với việc vui chơi giải trí, từng cá nhân và cộng đồng còn được thưởng thức những lời hô hát, những làn điệu dân ca mượt mà, dân dã những động tác vui nhộn, hoạt kê được anh Hiệu diễn xuất điêu luyện, sáng tạo. Đối với anh Hiệu, quá trình hô hát, biểu diễn cũng là quá trình tích lũy kinh nghiệm, cảm xúc để ứng tác, ứng diễn nên những lời hát, làn điệu mới, động tác mới hoặc những biến tấu về nghệ thuật nội dung hô hát, diễn xuất. 

Đối với người chơi, quá trình thưởng thức đồng thời là quá trình thu nhận, dung nạp hình tượng, xúc cảm làm tư liệu để ứng tác nên những câu thơ ca hò vè mới trong sinh hoạt cộng đồng, trong các dịp hát hò khoan đối đáp, hò giã vôi, giã gạo, chèo thuyền… Một số câu hát trong các dịp này đã được sử dụng để hô các con bài trong Bài chòi. Chúng ta có thể thấy được quá trình tương tác này qua một số trường hợp sau. Đây là câu hát chia cách trong hát hò khoan được dùng để hô con Nọc thược:

Nghĩ gia đình tôi xa bôn xa bức

Đấm ngực rồi lại sang tay

Anh đi ra dặn em ở nhà

Cùng ngôn tận lý em nghĩ mà nuôi con

Anh đi ra cách núi lìa non

Bữa ăn miếng ngọt miếng ngon lo cho cha mẹ chồng

Bạc tháng em lãnh ba đồng

Ruộng thổ phần thuê mướn nuôi công cho chàng

Ngày nay nhà nước giặc an

Cho anh phản bộ về làng nghỉ ngơi

Anh về vừa mới tới nơi

Nghe cha mẹ nói mấy nhiêu lời xót xa

Em đi đâu bỏ mẹ bỏ cha

Bỏ con chiu chít vậy mà em theo trai

Năm ngoái em có đậu thai

Em uống thuốc em phá thiên hạ người ngoài đều hay

Năm ngoái chí những năm nay

Ban đêm em ngủ đổ ban ngày em ngủ lang

Phải chi anh bỏ xứ anh đi hoang

Em ở nhà em làm vậy cũng không oan tấm tình

Ngày rày xuất ngũ hành binh

Đầu tên mũi đạn em ở nhà em lãnh bạc tháng em xin ăn

Phải chi thời em thủ bổn thủ căn

Ngày em buôn tần bán tảo tối em băn khoăn nhớ chồng

Em đi đâu bỏ cửa nhà không

Mê say trai gái em lấy bạc đồng em cho

Động trong nhà em ra ngoài ngõ

Động xóm dưới thì em mò lên xóm trên

Tội em có giết cũng nên

Có đâm cũng đáng đừng có trách chàng sao đành đoạn không thương

Bớ em ơi em ở làm vầy bất hiếu bất lương

Nọc ra mà đánh tan xương cũng đành

(Con Nọc thược)

Bài hô “Con Nọc Thược” là một kiệt tác của văn học dân gian xứ Quảng, phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc và tâm lý phức tạp của người phụ nữ.

Bối cảnh xã hội: “Ngày nay nhà nước giặc an/ Cho anh phản bộ về làng nghỉ ngơi”. Câu hát xác lập bối cảnh hậu chiến, người lính trở về. Điều này cho thấy Bài Chòi không đóng băng trong quá khứ mà liên tục cập nhật hơi thở thời đại.

Ngôn ngữ và Tâm lý: Tác giả sử dụng các từ láy đặc trưng phương ngữ Quảng Nam: “xa bôn xa bức”, “chiu chít”. “Xa bôn xa bức” không chỉ là xa về khoảng cách mà còn gợi sự bế tắc, mù mịt.

Lời biện minh của người vợ ngoại tình: “Phải chi anh bỏ xứ anh đi hoang/ Em ở nhà em làm vậy cũng không oan tấm tình”. Đây là một lập luận pháp lý đầy tính nhân bản. Người vợ không chối tội (“Năm ngoái em có đậu thai/ Em uống thuốc em phá...”), nhưng cô biện minh bằng hoàn cảnh kinh tế (“Bạc tháng em lãnh ba đồng”) và sự vắng mặt của người chồng.

Sự va đập của các giá trị: Bài hô kết thúc bằng sự trừng phạt tàn khốc: “Nọc ra mà đánh tan xương cũng đành”. Cái kết này thỏa mãn luân lý Nho giáo (trừng phạt kẻ bất chính), nhưng toàn bộ phần trước đó lại là tiếng nói cảm thông cho thân phận người phụ nữ cô đơn.

Sự sáng tạo ở đây không chỉ là gieo vần, mà là sự dũng cảm nhìn thẳng vào các bi kịch gia đình và đưa nó lên sân khấu dân gian. Bài Chòi là sân khấu của người bình dân. Ở đó, những góc khuất của xã hội (ngoại tình, đói nghèo, chiến tranh) được phơi bày trần trụi, phá vỡ sự im lặng giả tạo của lễ giáo phong kiến.

Đây là câu hát sinh tử trong hò khoan được dùng để hô con Chín gối:

Tay bên tả chàng bưng siêu thuốc Bắc

Tay bên hữu chàng bợ lấy lò than

Bước lên cửa bệ vén mùng loan

Thấy em thất sắc hai hàng lệ rơi

Giậm chân xuống đất kêu trời

Ai làm cho thiếp đổi hồn dời âm ty

Rồi đây chàng phải chịu tang chế một khi cửa buồng

Về nhà treo bức liễn vuông

Treo lên rớt xuống lụy tuôn hai hàng

Ai làm cho thiếp thác xuống suối vàng

Ngọn hương ngọn khói bỏ mình chàng bơ vơ

Đêm năm canh đáo đến giường thờ

Khăn thì lau nước mắt tay rờ ngọn nhang

Một mình chàng than thở thở than

Bỏ gối nghiêng nệm chích phòng loan một mình

(Con Chín gối)

 

Bài hô “Con Chín Gối”  mô tả cảnh tang chế chi tiết đến rợn người: Hình ảnh: “siêu thuốc Bắc”, “lò than”, “vén mùng loan”, “bức liễn vuông”, “ngọn nhang”. Đây là những vật dụng mang tính biểu tượng cao trong nghi thức tang lễ của người Việt miền Trung.

Cảm xúc: “Giậm chân xuống đất kêu trời/ Ai làm cho thiếp đổi hồn dời âm ty”. 

Thủ pháp nghệ thuật: Từ “gối” trong câu cuối được dùng để bắt vần sang con bài “Chín Gối”.

 Tiếng khóc than ai oán này được trình diễn giữa tiếng trống hội rộn ràng tạo nên một hiệu ứng thẩm mỹ tương phản mạnh mẽ. Chính sự tương phản này làm nên sức hấp dẫn của nghệ thuật Bài Chòi: Nó là sự tổng hòa của Hỉ - Nộ - Ái - Ố, không đơn điệu một chiều. 

Xét về một tầng ý nghĩa sâu xa khác, những câu hô hát này mang tính chất thanh lọc” nghe về nỗi đau của người khác (trong nghệ thuật) giúp người xem giải tỏa những ẩn ức, lo âu của chính mình. Sự bi thương trong lời hô con “Chín Gố” không làm người nghe buồn đi, mà làm họ trân trọng hơn sự sum họp hiện tại. Đây là ví dụ điển hình cho thấy Bài Chòi có khả năng chạm đến những cung bậc cảm xúc sâu lắng nhất của con người, khơi dậy lòng trắc ẩn và tôn vinh các giá trị đạo đức truyền thống.

  1. Vai trò giao tiếp, cố kết cộng đồng

Đây là vai trò làm nên sức sống bền vững, sức thu hút mạnh mẽ đồng thời cũng là thành tố tạo nên giá trị độc đáo, riêng có của trò chơi- nghệ thuật Bài chòi. Người dân xứ Quảng tìm đến với Bài chòi không chỉ để vui chơi giải trí, để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa mà sâu xa hơn, tiên quyết hơn, họ đến với Bài chòi để thực hiện, thể hiện nhu cầu giao tiếp, cố kết cộng đồng. Vai trò này thể hiện qua các khâu chuẩn bị tổ chức, tham gia vui chơi và kết thúc hội Bài chòi hàng năm. Những ngày cuối tháng chạp, cùng với việc chuẩn bị Tết cho cá nhân, gia đình, những thành viên của xóm làng còn tham gia các công việc chung như dọn dẹp đường sá, trang trí, bài trí đình làng cùng các di tích tín ngưỡng của cộng đồng, trong đó có việc chuẩn bị mặt bằng, vật liệu cho hội chơi Bài chòi:

Vợ lo nếp lá đậu mè

Chồng lo mài rựa chặt tre dựng chòi

Trong sự phân công lo việc Tết này ta thấy người chồng - người đàn ông trong gia đình còn đảm nhận thêm một công việc đó là chuẩn bị vật liệu cho việc dựng các chòi cho hội Bài chòi của cộng đồng. Công việc này diễn ra vào dịp giáp Tết hàng năm và đây cũng là dịp để giao tiếp và cố kết cộng đồng, thắt chặt tình làng nghĩa xóm thông qua hoạt động chuẩn bị vui chơi ngày Tết. Kẻ góp của người góp công, người cho mượn phương tiện, vật liệu,… mọi việc diễn ra một cách tự nguyện tạo thành một mối quan hệ cố kết cộng đồng chặt chẽ.

Theo một góc nhìn khoa học quy trình chuẩn bị như một khế ước xã hội. Đây là sự phân công lao động theo giới “Vợ lo nếp lá đậu mè/ Chồng lo mài rựa chặt tre dựng chòi”. Một cách phân chia điển hình trong xã hội nông nghiệp. Việc chuẩn bị cho hội Bài Chòi không chỉ là hậu cần, mà là quá trình tái khẳng định vai trò của từng thành viên trong cộng đồng. Và sự “tự nguyện”, “góp của góp công” chính là biểu hiện của Vốn xã hội. Hội Bài Chòi là dịp để tích lũy và kiểm kê nguồn vốn này. Một làng tổ chức được hội Bài Chòi lớn chứng tỏ làng đó đoàn kết, kinh tế vững mạnh.

Vai trò giao tiếp, cố kết cộng đồng này của Bài chòi cũng được thể hiện rõ nét trong lúc vui chơi. Khi hội Bài Chòi diễn ra, sân hội trở thành trung tâm giao tiếp của làng xã.

- Giao tiếp liên thế hệ: Người già truyền đạt kinh nghiệm, tích tuồng cho người trẻ.

- Giao tiếp liên gia đình: Các gia đình gặp gỡ, chúc Tết.

- Hòa giải mâu thuẫn: Không khí vui tươi, cởi mở của hội Bài Chòi giúp xóa nhòa những xích mích nhỏ nhặt trong năm cũ.

Tham gia chơi Bài Chòi cũng chính là tham gia một nghi thức chào hỏi đầu năm. Sự hiện diện tại hội Bài Chòi là cách để cá nhân khẳng định tư cách thành viên của mình trong cộng đồng làng xã. Tham gia chơi Bài chòi cũng chính là tham gia gặp mặt đầu năm để chúc Tết lẫn nhau, để gắn kết mối quan hệ bà con hàng xóm láng giềng cũng như quan hệ cộng đồng. Có thể nói Bài chòi là một hội vui xuân truyền thống ở đó các cá nhân có điều kiện, môi trường để gặp gỡ, giao tiếp cộng đồng qua đó tăng cường quan hệ cố kết cộng đồng một cách hiệu quả.

  1. Vai trò thể hiện và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng

Trước hết có thể thấy rằng cùng với “cây đa, bến nước, sân đình” thì hội Bài chòi ngày xuân đã góp phần khắc họa rõ nét bức tranh làng quê xứ Quảng vừa thanh bình, yên ả vừa sinh động, tràn đầy màu sắc vào những ngày lễ Tết. Sự có mặt của hội Bài chòi ở một sân đình, một bến sông, một góc phố với những chiếc chòi tranh tre dân dã, xinh xắn, với những lá cờ hội phất phới, những tiếng trống điểm nhịp rộn ràng, những người vào ra tấp nập trong trang phục mới tinh, trong tiếng chào hỏi, chúc Tết rộn rã… ngày Tết của địa phương trở nên rạng rỡ, sinh động, tràn đầy sức sống, sắc xuân. Có lẽ vì vậy mà có một giai đoạn hội Bài chòi bị gián đoạn ở nhiều địa phương, không khí ngày Tết ở đó bỗng trở nên thiếu vắng, đơn điệu.

Hội Bài chòi với những chiếc chòi con tranh tre, mây lá quây quần quanh các chòi cái tại một không gian công cộng nào đó của làng xã còn thể hiện một khung cảnh làng quê yên ả, một xã hội công xã nông thôn với sự cộng cư của nhiều gia đình xung quanh một thiết chế chung của cộng đồng. Cấu trúc này mô phỏng cấu trúc của làng xã Việt Nam (Nhà dân quây quần quanh Đình làng/Nhà rông). Trong Bài Chòi, sự tương tác không chỉ là một chiều từ Anh Hiệu xuống khán giả, mà còn là sự tương tác ngang giữa các Chòi Con với nhau (chúc tụng, trêu ghẹo). Không gian này phá vỡ sự biệt lập của các gia đình, tạo ra một không gian công cộng thực sự, nơi mọi người bình đẳng trong cuộc chơi. Cờ hội phất phới, tiếng trống chầu, tiếng đàn nhị, tiếng hô thai... tất cả tạo nên một “hệ sinh thái văn hóa” đậm chất Quảng.

Dưới khía cạnh bảo tồn, Bài chòi là một hoạt động lưu giữ, bảo tồn nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể từ ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian đến tri thức dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng. Các loại hình này được thực hành, lưu truyền qua việc hô hát của anh Hiệu, qua kỹ thuật dựng, trang trí các chòi và khu vực hội Bài chòi, qua việc in các con bài, qua các tập tục, tín ngưỡng liên quan đến trò chơi Bài chòi. Đây chính là hình thức bảo tồn thông qua cộng đồng dân cư tại chỗ, một dạng thức của bảo tàng sống.

Bài Chòi đóng vai trò như một kho lưu trữ sống động và an toàn cho các giá trị văn hóa phi vật thể khác. Thông qua hoạt động hô hát và diễn xướng, Bài Chòi bảo tồn:

- Phương ngữ: Tiếng Quảng Nam với những từ vựng, ngữ điệu đặc trưng được lưu giữ nguyên vẹn trong lời hô.

- Kho tàng văn học dân gian: Ca dao, tục ngữ, hò vè được “sống” lại trong môi trường diễn xướng, tránh nguy cơ mai một trên văn bản giấy.

- Nghệ thuật tạo hình: Kỹ thuật làm thẻ bài (khắc gỗ, in ấn), kỹ thuật dựng chòi tre, trang trí cờ phướn.

- Tín ngưỡng dân gian: Các nghi thức cúng Hiệu, cúng Tổ nghề trước khi mở hội.

Hội Bài chòi là hình thức bảo tồn “tại chỗ” hiệu quả nhất, nơi di sản được nuôi dưỡng bởi chính cộng đồng chủ thể.

  1. Vai trò phổ biến và giao lưu văn hóa

Đây là vai trò, chức năng mới của trò chơi Bài chòi. Thực tế cho thấy tại xứ Quảng cũng như tại những địa phương ở miền Trung, có một giai đoạn trò chơi Bài chòi bỗng dưng bị trầm lắng và có nguy cơ mai một. Sau những cố gắng của ngành văn hóa, của các nhà chuyên môn và của cộng đồng cộng với những cơ hội mới khi mà lễ hội được phục hồi, hoạt động du lịch được phát triển, gần đây Bài chòi lại được phục hồi ở nhiều địa phương xứ Quảng. Năm 1998, Hội An đưa Bài chòi vào trình diễn ở hoạt động Đêm phố cổ hàng tháng. Đây là bước ngoặt chuyển đổi Bài Chòi từ một sinh hoạt thời vụ (chỉ dịp Tết) thành một sản phẩm văn hóa thường xuyên phục vụ du lịch. Mô hình này đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Nhiều địa phương của xứ Quảng cũng đã phục hồi trò chơi Bài chòi trong các dịp lễ hội lớn, các ngày hội văn hóa, các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của địa phương và đất nước. Bài chòi đã được mang đi giới thiệu trình diễn tại một số địa phương trong nước vào các ngày hội văn hóa của các địa phương ngoài tỉnh. Bài chòi cũng đã được mang đi trình diễn ở 7 quốc gia, vùng lãnh thổ qua đó góp phần giới thiệu những nét đặc sắc của Bài chòi ra nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng giao lưu văn hóa trên phạm vi quốc tế. Bài chòi không còn bó hẹp trong không gian làng xã mà đã trở thành đại sứ văn hóa. Thông qua Bài Chòi, bạn bè quốc tế hiểu thêm về tính cách con người miền Trung: lạc quan, hóm hỉnh, trọng tình nghĩa và đầy tài hoa.

Với những giá trị vốn có, sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, lập hồ sơ đệ trình, đến ngày 7/12/2017, nghệ thuật Bài chòi miền Trung đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, góp phần phổ biến ra thế giới một loại hình trò chơi - trò diễn xướng dân gian đặc sắc, độc đáo của xứ Quảng nói riêng, miền Trung nói chung.

 

Kết luận

Bài chòi là một trò chơi và là một loại hình nghệ thuật dân gian đa thành tố văn hóa nghệ thuật, hình thành từ lâu đời, gắn bó chặt chẽ với đời sống của người dân ở các xóm thôn, làng bản từ miền ngược cho đến miền xuôi của xứ Quảng. Tuy có một số biến đổi so với truyền thống nhưng đến nay Bài chòi vẫn chưa mất đi sức thu hút thể hiện ở chỗ Bài chòi đã có mặt trở lại tại nhiều địa phương của xứ Quảng.

Hiện nay chính quyền địa phương đã ban hành Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019 - 2025 với nhiều biện pháp, chính sách cụ thể. Trước mắt đã tổ chức các lớp tập huấn truyền dạy, bồi dưỡng kỹ năng thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi cho các nghệ nhân, câu lạc bộ, nhóm, những người có khả năng tiếp thu và thực hành di sản Bài chòi. Vấn đề khó nhất hiện nay là làm sao tìm lại, xây dựng cho được một đội ngũ công chúng yêu thích, hâm mộ, tâm huyết với nghệ thuật Bài chòi. Bởi vì điều này sẽ quyết định sự sống còn của Bài chòi. Muốn làm được điều này, cùng với việc tuyên truyền, quảng bá về các giá trị độc đáo của Bài chòi, việc phục hồi mẫu và phục hồi rộng rãi, trong điều kiện hiện nay bên cạnh việc giữ gìn, bảo tồn các yếu tốc gốc, yếu tố truyền thống cốt lõi của Bài chòi chúng ta cũng cần phải dung nạp những yếu tố mới gắn với khoa học công nghệ, với kỹ thuật hiện đại để tăng cường sức hấp dẫn cho nghệ thuật Bài chòi, đáp ứng được thị hiếu của công chúng hiện nay.


 

* Tài liệu tham khảo:

  1. Nhiều tác giả (2023), Di sản Bài chòi xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng.

  2. Hồ sơ đề cử UNESCO (2017), Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

  3. Website Cục Di sản văn hóa (2017). Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nguồn: https://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-bai-choi-trung-bo-viet-nam-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1535

  4. UBND tỉnh Quảng Nam (2018), Kế hoạch số 6202/KH-UBND ngày 30/8/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam.

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN BÀI CHÒI: HÌNH THỨC, KỸ THUẬT VÀ PHONG CÁCH

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN BÀI CHÒI: HÌNH THỨC, KỸ THUẬT VÀ PHONG CÁCH

NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN BÀI CHÒI: HÌNH THỨC, KỸ THUẬT VÀ PHONG CÁCH

Nguyễn Văn Quý

Trung tâm Bảo tồn di sản thế giới Hội An

 

Nếu ai đã từng một lần đứng giữa làng quê miền Trung, trước những mái chòi tre lợp lá, nghe tiếng gõ đúng nhịp, tiếng trống rộn vang, rồi tiếng anh hiệu cất lên “Bà con cô bác lắng lặng mà nghe…là tôi hô con bài… con gì nó ra đây!”, hẳn sẽ không thể nào quên cái cảm giác rạo rực chạy suốt sống lưng - như nghe tiếng gọi của tổ tiên vọng về. Bài chòi là thế: mộc mạc, dân dã, không ồn ào phô trương mà thấm vào lòng người từng chút một, như mưa rơi trên cát khô, như gió thổi qua rặng phi lao, để rồi càng xa càng nhớ, càng nghe càng thương.

Là người lớn lên bên những phiên hội làng ở Quảng Nam, rồi về sống giữa phố cổ Hội An, rong ruổi gần hai mươi năm theo chân những bậc nghệ nhân lão luyện, tôi càng day dứt hơn bao giờ hết trước vẻ đẹp độc đáo của Bài chòi - một loại hình nghệ thuật hội tụ đủ duyên dáng dân gian, trí tuệ ứng tác, tinh thần lạc quan và bản lĩnh sống của cư dân miền Trung. Nghĩ về Bài chòi, tôi luôn hình dung đến hình ảnh người nông dân năm xưa - vai đeo cuốc, chân dính bùn, nhưng miệng luôn sẵn câu thai dí dỏm, tay luôn sẵn chiếc thẻ bài để vào hội. Bài chòi không chỉ là cuộc vui đầu xuân, mà còn là “một bảo tàng sống”, nơi chất chứa cả hồn vía một vùng đất chịu thương chịu khó mà vẫn tươi sáng trước cuộc đời.

Bài chòi không ra đời trong cung đình, không xuất phát từ những “ông tổ nghề” cụ thể, mà sự hình thành của Bài Chòi có mối liên hệ mật thiết với công cuộc khai hoang lập ấp và bảo vệ lãnh thổ của cư dân Đàng Trong dưới thời Chúa Nguyễn. Thế kỷ XVI-XVII là giai đoạn người Việt di cư mạnh mẽ vào vùng Thuận - Quảng. Tại đây, họ đối mặt với hai thách thức lớn: thiên nhiên khắc nghiệt (thú dữ) và nhu cầu an ninh phòng thủ. Theo đó, các chòi canh (vọng gác) được dựng lên cao để nông dân hoặc binh lính quan sát thú dữ phá hoại mùa màng hoặc cảnh giới kẻ địch. Để chống lại cơn buồn ngủ và sự cô độc trong đêm tối, những người canh gác trên các chòi cao đã sáng tạo ra cách hô đáp, đối đáp lẫn nhau bằng thơ ca hò vè. Sự giao tiếp này dần phát triển thành một hệ thống các câu hô, và khi kết hợp với bộ thẻ bài (được cải biên từ Tổ Tôm, Tam Cúc mang theo từ Đàng Ngoài), nó chuyển hóa thành trò chơi giải trí. Bài Chòi là sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, phục vụ mục đích sinh tồn và cố kết cộng đồng cụ thể. Theo bước chân người Việt vào Thuận – Quảng mở đất cùng những kỹ thuật ngâm – lý – hò – vè của quê cũ, rồi kết hợp với khí hậu khắc nghiệt và tâm lý lạc quan của cư dân miền Trung, thế là Bài chòi thành hình: vừa là trò chơi, vừa là tiếng hát, vừa là cách để làng xóm sum vầy. Người miền Trung làm gì cũng trọng nghĩa tình, nên Bài chòi vừa vui mà vừa dạy, vừa chơi mà vừa trao truyền kinh nghiệm sống. Câu thai nào cũng có ý tứ, lời nào cũng có nghĩa, cười đó nhưng sâu sắc đó.

Ngày nay đứng nhìn lại, ta càng hiểu vì sao UNESCO vinh danh Nghệ thuật Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bởi Bài chòi thực sự độc đáo: không có nơi nào mà trò chơi, âm nhạc, kể chuyện, ứng tác và giao lưu cộng đồng hòa quyện vào nhau đến vậy. Đây không chỉ là “loại hình nghệ thuật”, mà còn là “phương thức sống”- cách người miền Trung kết bạn với nhau, nối lòng với nhau, vỗ về nhau sau những mùa bão lũ.

Muốn hiểu về Bài chòi, cần phải đi sâu vào phân tích ba điểm cốt lõi làm nên linh hồn của nó: 

1. Hình thức trình diễn: Phân tích cấu trúc không gian, sự tích hợp các loại hình nghệ thuật và mô hình tổ chức.

2. Kỹ thuật diễn xướng: Đi sâu vào hệ thống ngữ âm (Ngâm – Hô – Hát), cấu trúc âm nhạc và kỹ thuật biểu diễn của nghệ nhân.

3. Phong cách nghệ thuật: So sánh các biến thể vùng miền (Bình Định, Quảng Nam, Huế) và định hình vai trò của nghệ nhân (Anh Hiệu) trong việc kiến tạo phong cách. 

Hình thức trình diễn độc đáo, ngữ điệu pha trộn ngâm - hô - hát, và phong cách nghệ nhân - những “người giữ lửa” quyết định sự thăng hoa của cuộc hội. Ba yếu tố này đan cài vào nhau như ba sợi dây bện thành một sợi thừng chắc, giúp Bài chòi vượt qua thời gian, biến đổi theo xã hội mà vẫn giữ nguyên hồn cốt. Bài Chòi là một loại hình “diễn xướng tổng hợp”. Nó không thể bị bó hẹp trong các định nghĩa đơn lẻ như “âm nhạc”, “thơ ca” hay “trò chơi”. Dữ liệu từ các nghiên cứu cho thấy sự đan xen hữu cơ giữa các yếu tố:

Văn học: Hệ thống lời thai, ca dao, tục ngữ.

Âm nhạc: Các làn điệu dân ca, hô, lý, hò.

Mỹ thuật: Nghệ thuật vẽ con bài trên thẻ tre, trang trí chòi.

Sân khấu: Kỹ thuật diễn xuất, điệu bộ của anh Hiệu.

Trò chơi: Yếu tố may rủi, cá cược mang tính giải trí.

Sự tổng hợp này tạo nên tính linh hoạt tuyệt đối cho Bài Chòi. Nó có thể tồn tại dưới dạng một trò chơi dân gian dịp Tết (Hội chơi Bài Chòi) hoặc chuyển mình thành một vở kịch hát quy mô trên sân khấu (Ca kịch Bài Chòi). Khả năng chuyển hóa hình thức này chính là chìa khóa giúp Bài Chòi sống sót qua các biến động lịch sử, từ xã hội phong kiến nông nghiệp đến xã hội hiện đại đô thị hóa.

Và để thấu hiểu nghệ thuật Bài Chòi, trước tiên cần định vị nó trong dòng chảy văn hóa của dải đất miền Trung, đặc biệt là vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng. Đây là vùng đất của sự giao thoa, nơi “đòn gánh” của hai đầu đất nước chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt nhưng cũng là nơi con người hình thành nên tính cách kiên cường, lạc quan và trào lộng. Bài Chòi, trong bản chất sâu xa nhất, là sự phản ứng nghệ thuật của người dân trước môi trường sống đó. Không giống như Đờn ca tài tử của miền Nam thiên về sự phóng khoáng, mượt mà trên sông nước, hay Dân ca Quan họ miền Bắc với sự tinh tế, khuôn phép của văn hóa làng xã Bắc Bộ 1, Bài Chòi mang trong mình cái “ngang tàng”, bộc trực và mặn mòi của gió biển và đất cày miền Trung.

Các dữ liệu so sánh cho thấy, nếu miền Bắc tự hào với các làn điệu chèo, miền Nam với cải lương, thì miền Trung khẳng định bản sắc qua Bài Chòi. Đây không chỉ là một sự phân chia về địa lý hành chính mà là sự phân hóa về phong cách thẩm mỹ. Bài Chòi xứ Quảng là sự kết tinh của nhu cầu giao tiếp cộng đồng, nơi tiếng cười và tiếng hát trở thành phương tiện để gắn kết các thành viên trong làng xã.

I. HƠI THỞ LÀNG XÓM TRONG KHÔNG GIAN TRÌNH DIỄN BÀI CHÒI

Bài chòi tồn tại nhờ không gian mở - thứ không gian mà bất cứ ai cũng có thể bước vào, góp tiếng cười, góp cái gật đầu, góp tiếng reo. Sân đình, sân chợ, bãi đất trước nhà rông hay góc đường làng là những nơi Bài chòi sống cùng cộng đồng. Những mái chòi dựng bằng tre nứa, lợp lá dừa, sắp xếp thành vòng tròn như vòng tay ôm của làng, còn anh hiệu thì đứng giữa—vừa là linh hồn, vừa là trung tâm kết nối.

Anh hiệu không chỉ “hô bài”, mà còn dẫn dắt, châm một mồi lửa nhỏ để cả sân hội bừng lên. Tiếng hô của anh hiệu- vang mà ấm, mạnh mà duyên - mở ra cả một thế giới của dân gian: tiếng võng đưa ầu ơ, tiếng người đi biển kéo nhịp chèo, tiếng trống lân rộn rã, tiếng hát lý trữ tình. Anh hiệu không có khuôn mẫu cố định: mỗi người một phong cách, mỗi đêm một màu. Và chính điều này khiến Bài chòi giàu sức sống đến vậy.

Có người nói, đến sân Bài chòi như vào “sân khấu tự nhiên nhất của đời sống”. Không có rào chắn giữa diễn viên và khán giả, không có ánh đèn sân khấu lung linh, không có màn nhung kéo lên kéo xuống. Tất cả diễn ra trên nền đất, dưới trời sao, giữa tiếng gió biển thổi qua những tàu lá. Người chơi, người hô, người xem- tất cả hòa vào một dòng chảy chung. Ai cũng có một vai, không ai đứng ngoài cuộc.

Ngày nay, các tỉnh duyên hải miền Trung vẫn giữ mô hình ấy nhưng được bổ sung ánh sáng, âm thanh, sân khấu hóa để phù hợp với công chúng lớn hơn. Dù vậy, điều cốt lõi không hề thay đổi: nghệ nhân vẫn là trung tâm, chứ không phải dàn dựng, không phải thiết bị kỹ thuật. Một đêm Bài chòi hay là đêm mà người nghệ nhân “điều khiển” cảm xúc khán giả bằng chính hơi thở của mình - một hơi thở mang chất biển mặn, chất nắng gió, chất lao động vất vả mà kiêu hãnh. 

Trong mỗi cuộc chơi, có thể không ai nhớ hết ai trúng bao nhiêu quân bài, nhưng chắc chắn người ta nhớ tiếng cười, nhớ câu nói dí dỏm, nhớ giọng hô “làm mê làng mê xóm”. Vì vậy, nói đến Bài chòi là nói đến ký ức cộng đồng - ký ức mà bao thế hệ người miền Trung vẫn giữ như giữ một phần tâm hồn mình.

II. NGỮ ĐIỆU BÀI CHÒI – TIẾNG HÁT VỪA DÂN DÃ VỪA NGHỆ THUẬT

Nếu nói hình thức trình diễn là khung xương, thì ngữ điệu chính là dòng máu chảy trong thân thể Bài chòi. Không có ngữ điệu đặc trưng ấy, Bài chòi chỉ còn là trò chơi rút thẻ. Chính cách ngâm – hô – hát độc đáo đã nâng Bài chòi lên hàng nghệ thuật.

Ngâm của Bài chòi mang hơi thở hò khoan, vè, lý- âm điệu mộc mạc nhưng vẫn rất trữ tình. Thường anh hiệu dùng ngâm để kể chuyện, dẫn người nghe đi qua những lát cắt đời sống: chuyện anh nông dân đi cày, chuyện cô gái làng thả vó, chuyện vợ chồng trẻ đón mùa trăng rằm. Người miền Trung vốn ưa kể bằng giọng ngâm, vì đó là cách chuyển tải tình cảm nhẹ nhàng mà thấm sâu.

Hô thai thì mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn. Đó là tiếng gọi vang giữa sân, vừa để khán giả biết quân bài, vừa để tạo nhịp cho cuộc chơi. Hô phải rõ chữ, bật hơi, giữ tiết tấu chắc, vừa mang tính âm nhạc vừa mang tính thông báo. Anh hiệu giỏi có thể hô một câu thai mà khiến cả sân rung lên tiếng reo. Hô thai chính là “điểm rơi cảm xúc” của Bài chòi.

Hát lại là chất mềm, chất tình. Thường sau mỗi màn hô thai, anh hiệu có thể hát vài câu ví, vài câu lý để khán giả thư giãn, để nối câu chuyện, để tạo nhịp chuyển. Âm sắc của hát trong Bài chòi gần gũi giọng dân ca Trung Bộ, có chút xao xuyến của lý con sáo, có chút thiết tha của hò mái nhì, có chút tinh nghịch của lý kéo chài.

Ba yếu tố ấy tạo nên lối diễn xướng “ba trong một”: nửa hát – nửa nói – nửa hô. Nghe tiếng Bài chòi là biết đang ở miền Trung, biết đang đứng giữa một sân hội rộn rã nhưng đậm chất quê. Và chính ngữ điệu này làm nên bản sắc của từng vùng:

  • Bình Định: mạnh mẽ, sân khấu, chắc nhịp, đầy khí phách.

  • Quảng Nam – Đà Nẵng: mộc mạc, duyên dáng, hài hước.

  • Huế: mềm mại, luyến láy như điệu Ca Huế trên sông Hương.

Mỗi vùng một màu, nhưng khi ghép lại thành Bài chòi Trung Bộ thì đó là bản đồ âm thanh phong phú đến kỳ lạ - không lẫn với bất cứ nơi nào trên thế giới.

III. HỆ THỐNG ÂM NHẠC VÀ LÀN ĐIỆU ĐẶC TRƯNG

Âm nhạc Bài Chòi là sự tổng hợp của nhiều nguồn dân ca miền Trung, nhưng khi lên sân khấu ca kịch, nó được quy chuẩn hóa thành các nhóm làn điệu chính để phục vụ việc xây dựng tính cách nhân vật và tình huống kịch. Dựa trên dữ liệu và phân tích chuyên môn, ta có thể phân loại:

Phân loại và Chức năng các Làn điệu Bài Chòi

Tên Làn điệu

Đặc điểm Âm nhạc

Chức năng Sân khấu/Diễn xướng

Xuân Nữ

Giai điệu buồn, ai oán, nhịp độ chậm, nhiều luyến láy mềm mại.

Dùng cho các đoạn bi kịch, than thân trách phận, độc thoại nội tâm của nhân vật nữ hoặc cảnh chia ly.

Xàng Xê

Âm hưởng trang trọng, hùng tráng, tiết tấu dứt khoát, mạnh mẽ.

Dùng cho các nhân vật nam, các cảnh đối chất, tranh luận, hoặc cao trào kịch tính.

Hồ Quảng

Chịu ảnh hưởng của nhạc kịch Trung Hoa, giai điệu tươi vui, nhộn nhịp.

Dùng cho các cảnh cung đình, hội hè, cảnh thần tiên hoặc những tình huống hài hước, nhẹ nhàng.

Cổ Bản

Mang sắc thái kể chuyện, trầm lắng.

Dùng để dẫn chuyện, trần tình sự việc.

Lô Tô / Hò Vè

Tiết tấu nhanh, vui nhộn, mang tính đại chúng.

Thường dùng trong phần hội chơi hoặc các đoạn kết thúc vui vẻ.

Kỹ thuật Âm nhạc Bài Chòi

Bài Chòi Trung Bộ vận hành chủ yếu trên thang âm Ngũ cung (Pentatonic) nhưng có sự biến hóa tinh tế giữa các vùng (Local dialect nuances). Cần bổ sung bảng phân tích kỹ thuật như sau:

Hệ thống Hơi/Điệu

Đặc điểm Thang âm & Quãng 

Sắc thái biểu cảm & Ứng dụng

Đối sánh với tư liệu 

Hơi Bắc (Điệu Khách)

Sử dụng thang âm ngũ cung đúng, các quãng ổn định, ít luyến láy bán âm. Âm vực thường treo ở khu vực cao và trung.

Vui tươi, khỏe khoắn, dứt khoát. Thường dùng cho các nhân vật trào phúng, các đoạn hô mở đầu hoặc kết thúc có hậu.

Tương ứng với nhóm “Lô Tô / Hò Vè” và một phần “Hồ Quảng” được nhắc đến trong.

Hơi Nam (Điệu Ai)

Sử dụng thang âm ngũ cung có biến thể (Oán). Đặc trưng bởi quãng 3 non (minor third) và các nốt rung (vibrato), mổ (grace notes).

Buồn thương, bi lụy, nội tâm. Đặc tả sự chia ly, mất mát.

Chính xác hóa khái niệm “Xuân Nữ” trong là “Giai điệu buồn, ai oán”.

Hơi Xuân

Sự pha trộn giữa Bắc và Nam, tạo cảm giác bâng khuâng, day dứt nhưng không bi lụy hoàn toàn.

Diễn tả tâm trạng lưỡng lự, tình cảm đôi lứa, sự chuyển biến tâm lý.

Bổ sung cho nhóm “Cổ Bản” và các đoạn trữ tình.

 

Trong hệ thống Bài Chòi truyền thống, vai trò của dàn nhạc là tối quan trọng để nâng đỡ giọng hát anh Hiệu. Bộ nhạc cụ thường bao gồm:

  • Đàn Nhị (Đàn Cò): Nhạc cụ chủ đạo, không chỉ đệm (accompaniment) mà còn “bám” và “luồn” theo giọng hát anh Hiệu. Đàn Nhị trong Bài Chòi thường mô phỏng chính giọng người (vocal mimicry), tạo ra hiệu ứng “hai người cùng kể chuyện”.

  • Song Loan, Mõ, Trống: Bộ gõ giữ vai trò cốt yếu trong việc giữ nhịp (rhythm) cho câu thơ lục bát. Đóng vai trò “khung xương” về nhịp. Quan trọng hơn, tiếng Song Loan là tín hiệu điều khiển. Trong môi trường diễn xướng ngẫu hứng, tiếng “Cốp” của song loan báo hiệu việc ngắt câu, chuyển đoạn, giúp đồng bộ hóa giữa Anh Hiệu và dàn nhạc mà không cần văn bản nhạc.

  • Kèn Chiến: Tăng cường âm lượng và không khí lễ hội trong các đoạn cao trào.

Sự phối hợp giữa nhạc và lời trong Bài Chòi đạt đến trình độ “tuy hai mà một”. Nhạc công không chỉ đệm đàn mà còn phải hiểu ý anh Hiệu để “đố” và “hứng” kịp thời, đặc biệt trong những đoạn ngẫu hứng không có trong kịch bản.

Yếu tố cốt lõi văn học của Bài Chòi là thể thơ Lục bát và Lục bát biến thể. Lục bát biến thể: Đây là đặc trưng quan trọng phân biệt văn học dân gian miền Trung với miền Bắc. Nếu Lục bát miền Bắc thường tuân thủ chặt chẽ luật bằng trắc và số lượng âm tiết (6/8), thì Lục bát trong Bài Chòi cho phép “dôi chữ” để phù hợp với lối kể chuyện tự sự và phương ngữ. Ví dụ: Một câu lục bát thông thường có thể biến thành: “Chớ ổng đi đâu (mà) cái đầu trọc lóc / (Chớ) ổng không có tóc (thì) ổng mần răng ổng kẹp cái kẹp ba ngà” (Câu thai con Bạch Huê). Những từ trong ngoặc là từ đệm, từ đưa đẩy đặc trưng của diễn xướng.

Thủ pháp “Đố tục giảng thanh” cũng là một thủ pháp nghệ thuật dân gian nhằm giải tỏa ức chế xã hội và tính dục trong khuôn khổ lễ hội cho phép. Khi thực hiện thủ pháp này Anh Hiệu đưa ra những hình ảnh gợi dục, táo bạo trong câu hát đố, khiến khán giả đỏ mặt, tò mò, nhưng đáp án (tên con bài) lại hoàn toàn trong sáng, vô tri (như con bài Cái Nồi, Cái Ghế). Sự vỡ lẽ này tạo ra tiếng cười sảng khoái. Thủ pháp này không phải là sự dung tục, mà là biểu hiện của triết lý phồn thực và tinh thần dân chủ trong lễ hội, nơi những cấm kỵ hàng ngày được nới lỏng.

Đồng thời, trong nghệ thuật Bài chòi mang tính phương ngữ và Tính địa phương. Bài Chòi không thể hát bằng giọng Bắc chuẩn hay Nam chuẩn. Ngữ âm: Các phụ âm đầu, nguyên âm đôi đặc trưng của miền Trung (ví dụ: “về” thành “dề”, “sao” thành “shao”, “đâu” thành “đâu”) tạo nên màu sắc âm nhạc riêng biệt. Hệ thống từ cổ và từ địa phương được bảo lưu trong các câu thai là một kho tàng cho nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử.

IV. KỸ THUẬT DIỄN XƯỚNG VÀ VAI TRÒ CỐT LÕI CỦA NGHỆ NHÂN (ANH HIỆU)

Trong Bài chòi, nghệ nhân không chỉ là người “diễn” - họ là người kiến tạo. Không có nghệ nhân, Bài chòi không thể sống. Không có giọng hô, không có ứng tác, không có duyên của người dẫn, thì cuộc chơi cũng chỉ là những quân bài vô hồn.

Nghệ nhân Bài chòi là người đứng giữa sân mà không hề xa cách, là người nắm mạch cuộc vui, điều khiển cảm xúc cả trăm con người. Họ vừa là ca sĩ, vừa là diễn viên, vừa là người kể chuyện, vừa là người pha trò. Nghệ nhân giỏi không phải người thuộc nhiều thai nhất, mà là người khiến khán giả “cười cái đã rồi tính sau”, là người khiến bà con trong chòi trúng hay trật đều thấy vui.

Ứng tác là tài năng lớn nhất của nghệ nhân. Mọi thứ đến từ đời sống, từ kinh nghiệm quan sát từng người trong chòi, từng đứa trẻ chạy tung tăng, từng bà mẹ bồng con, từng ông lão chậm rãi chống gậy đi xem hội. Nghệ nhân “bắt sóng” đời sống mà ứng khẩu, sáng tạo ra câu thơ, câu hát ngay tại sân. Đó là chất “thơ dân gian sống”, không có văn bản cố định, chỉ có hơi người thật.

Có khi người nghệ nhân ngẫu hứng hát một câu:

“Rủ nhau đi hội bài chòi

Để cho con khóc mà lòi rún ra

Rún ra thì mắc rún ra

Phải chơi cho hết canh ba mới về”.

Hay khi nhìn trời đổ mưa, người nghệ cất giọng:

“Trời mưa ướt là trầu vàng

Ướt anh anh chịu ướt nàng anh thương

Trời mưa ướt lá trầu hương

Ướt em em chịu ướt người thương em sầu

Bao năm anh vui xới dây trầu

Cau nhà em đã lớn anh bắt đầu nhớ thương

Trầu với cau nghĩa nặng tình thương

Anh về thắt gióng gánh trầu hương sang nhà!”

Giọng nghệ nhân cũng là linh hồn. Mỗi người một giọng, không lẫn vào đâu. Có giọng đục mà ấm, có giọng sáng mà vang, có giọng khàn nhưng đầy tình. Cái hay là nghệ nhân biết dùng giọng của mình như dùng nhạc cụ: khi nào ngân cho thật mềm, khi nào bật cho thật chắc, khi nào kéo dài, khi nào dồn dập cho người chơi bất ngờ. Đó là kỹ năng “tung - thu” mà nghề chỉ truyền qua thực hành, không thể học trong sách.

Một cuộc Bài chòi thành công luôn có dấu ấn của nghệ nhân. Khán giả có thể quên tên quân bài hôm ấy, nhưng họ nhớ tiếng cười, nhớ ánh mắt, nhớ cái nháy duyên của anh hiệu. Chính nghệ nhân làm cho Bài chòi sống động từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Kỹ thuật “Hô thai” là độc chiêu của Bài Chòi. “Thai” nghĩa là đố. Khi rút một con bài, anh Hiệu không đọc tên ngay mà hát một đoạn thơ (câu thai) mô tả đặc điểm của con bài đó.

  • Cấu trúc gây tò mò: Lời hô thường lấp lửng, dùng lối nói lái, ẩn dụ hoặc điển tích. Khán giả (người chơi) phải lắng nghe, suy đoán. Sự hồi hộp chờ đợi câu trả lời chính là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn.

  • Phong cách hài hước, châm biếm: Phong cách chủ đạo của lời hô là sự hóm hỉnh, trào lộng. Đôi khi có những câu hô mang tính “tục” nhẹ nhàng (đố tục giảng thanh) để gây cười, phá vỡ sự căng thẳng.

  • Sự tương tác: Anh Hiệu liên tục di chuyển, giao lưu mắt, và dùng cử chỉ điệu bộ để lôi cuốn người chơi ở các chòi xung quanh.

Từ những phân tích trên cho thấy vai trò Anh Hiệu trong một hội chơi Bài chòi là phải thực hiện song song đa nhiệm: 

Quan sát: Quét mắt nhìn khán giả, nhận diện đối tượng (già, trẻ, nam, nữ, quan khách) để chọn nội dung hô phù hợp.

Sáng tạo tức thời: Lắp ghép các vốn liếng ca dao, tục ngữ có sẵn hoặc sáng tác mới câu thơ ngay tại chỗ (vận dụng vần, điệu) để trêu ghẹo hoặc chào mời.

Điều phối trò chơi: Theo dõi tiến trình rút thẻ, đảm bảo tính công bằng và nhịp độ của ván bài. Anh Hiệu không chỉ diễn cho khán giả xem, mà diễn cùng khán giả. Khán giả là một phần của vở diễn. Khi Anh Hiệu châm chọc một cô gái trong chòi, cô gái đó trở thành nhân vật phụ, và phản ứng của cô (cười, thẹn thùng, đáp trả) trở thành một phần của nội dung diễn xướng. Đây là đặc điểm của “Sân khấu tham dự”.

V. GIÁ TRỊ VĂN HÓA – TINH THẦN – NHÂN SINH TRONG BÀI CHÒI

Điều khiến Bài chòi đáng quý không chỉ ở nghệ thuật, mà còn ở giá trị văn hóa - xã hội. Bài chòi là bài học sống, là tinh thần lạc quan, là thông điệp nhân sinh mà người miền Trung gửi gắm trong câu thai.

Trong Bài chòi có đầy đủ mọi lát cắt cuộc đời: từ chuyện nông dân làm ruộng, ngư dân ra khơi, đến chuyện hiếu nghĩa gia đình, chuyện giữ gìn đạo đức. Câu thai đôi khi châm biếm thói hư tật xấu: kẻ lười biếng, người tham lam, kẻ khoe của. Nhưng châm biếm cũng để sửa mình, để cười rồi bỏ qua, để nhẹ lòng mà sống đẹp hơn.

Bài chòi còn là kho kinh nghiệm dân gian: làm nông phải coi mưa nắng, đi biển phải xem con nước, đối nhân xử thế phải biết thuận theo lòng người. Những điều ấy được gửi gắm nhẹ nhàng trong câu ví, dễ nghe mà cũng dễ thấm.

Không chỉ dạy, Bài chòi còn an ủi. Sau bao mùa lũ, bao năm đói kém, người miền Trung vẫn giữ Bài chòi như giữ một liều thuốc tinh thần. Câu hát giúp xua tan mệt mỏi, tiếng hô tạo niềm vui, tiếng cười kết nối bà con lại với nhau. Bởi vậy, người ta nói: “Ở đâu có Bài chòi, ở đó có làng quê hạnh phúc.”

VI. BÀI CHÒI TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI – THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI

Thế kỷ XXI mang đến nhiều thay đổi. Lối sống nhanh hơn, công nghệ chi phối mạnh hơn, các hình thức giải trí đa dạng hơn. Điều ấy đặt Bài chòi trước thách thức lớn: làm sao giữ hồn cốt nhưng vẫn hòa vào dòng chảy mới của thời đại?

May thay, nhiều địa phương đã nhìn thấy giá trị quảng bá không thể thay thế của Bài chòi. Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Núi Thành, Duy Xuyên… đã phục dựng Bài chòi trong hoạt động du lịch, dịp tết, lễ hội, buổi diễn định kỳ. Khách du lịch nước ngoài rất thích thú - không chỉ vì âm nhạc, mà vì cách giao lưu đầy thân tình của nghệ nhân.

Nhưng đi kèm cơ hội là thách thức. Một số nơi sân khấu hóa quá đà, làm mất tính tự nhiên. Một số nơi dùng kịch bản cố định, khiến nghệ nhân mất cơ hội ứng tác. Một số nghệ nhân lớn tuổi dần vắng bóng, trong khi lớp trẻ còn ít người theo nghề.

Để Bài chòi sống bền, chúng ta cần:

  • Ghi âm - ghi hình hệ thống ngữ điệu của các nghệ nhân lớn tuổi.

  • Mở lớp truyền nghề theo phương thức “cầm tay chỉ việc”.

  • Đưa Bài chòi vào trường học như hoạt động ngoại khóa.

  • Ứng dụng công nghệ số để lan tỏa: phim tư liệu, nền tảng video…

  • Khuyến khích nghệ nhân trẻ sáng tạo lời mới, phong cách mới nhưng giữ đúng hồn cốt.

Quan trọng nhất: Bài chòi phải sống trong cộng đồng, chứ không bị “đóng khung” trong bảo tàng hay sân khấu xa lạ.

VII. BÀI CHÒI – TIẾNG LÒNG MIỀN TRUNG GỬI ĐẾN NHÂN LOẠI

Khi tiếng hô thai vang lên giữa đêm xuân, khi tiếng cười dội từ chòi này sang chòi khác, khi đứa trẻ tranh nhau chạy theo anh hiệu, lúc đó ta mới hiểu: Bài chòi không chỉ là nghệ thuật, mà là tiếng lòng của người miền Trung - tiếng lòng vừa hồn nhiên, vừa sâu thẳm; vừa vui tươi, vừa triết lý.

Bài chòi là bản nhạc của biển gió, là câu chuyện của ruộng đồng, là niềm vui của cộng đồng, là dấu ấn văn hóa mà đất trời miền Trung trao tặng con người.

Giữ Bài chòi không chỉ là giữ một trò chơi, mà là giữ cả tinh thần lạc quan, trí khôn dân gian, đạo nghĩa cộng đồng. Đó là di sản mà người xưa gửi lại, là món quà mà chúng ta có trách nhiệm gìn giữ và trao về cho thế hệ mai sau.

Và tôi tin, với hơi thở mộc mạc mà sâu sắc ấy, Bài chòi sẽ không bao giờ mất. Bởi chừng nào người miền Trung còn biết cười trong gian khó, còn biết yêu trong nghịch cảnh, còn biết nắm tay nhau qua mùa bão lũ, thì chừng đó tiếng hô bài vẫn còn vang lên - vang như tiếng quê, tiếng đất, tiếng người miệt mài sống và yêu.

KẾT LUẬN

Nghệ thuật Bài Chòi là một kiệt tác của sự sáng tạo dân gian, một biểu tượng sinh động cho bản lĩnh văn hóa của người miền Trung. Với hình thức diễn xướng tổng hợp độc đáo, kỹ thuật Ngâm – Hô – Hát điêu luyện và khả năng ứng tác tài tình của người nghệ nhân, Bài Chòi đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành di sản chung của nhân loại.

Nghiên cứu về hình thức, kỹ thuật và phong cách của Bài Chòi không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một loại hình nghệ thuật đặc sắc mà còn là chìa khóa để thấu hiểu tâm hồn, tính cách và triết lý sống của con người Việt Nam trên dải đất miền Trung: lạc quan, kiên cường, trọng nghĩa tình và luôn biết tìm thấy niềm vui ngay trong gian khó. Việc bảo tồn Bài Chòi, do đó, chính là bảo tồn ngọn lửa tinh thần quý giá đó cho các thế hệ mai sau.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Văn Bổn, (2001), “Văn học dân gian Quảng Nam – Miền biển”, Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam.

  2. Giáo sư Trương Dĩnh, (2001) “Tìm hiểu thêm về một câu ca dao kỳ lạ của xứ Quảng”, Kỷ yếu hội thảo “Văn hóa Quảng Nam – Những giá trị đặc trưng”.

  3. Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng chủ biên, (2010),”Tổng tập văn hóa văn nghệ dân gian ca dao, dân ca Quảng Nam”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

  4. Hoàng Chương, (2014), Nghệ thuật Bài chòi Di sản quý của dân tộc, NXB Sân khấu.

  5. Sở VH, TT&DL Quảng Nam, (2023), Di sản Bài chòi xứ Quảng, NXB Đà Nẵng.