Tìm kiếm

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BÀI CHÒI XỨ QUẢNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HOÁ

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BÀI CHÒI XỨ QUẢNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HOÁ

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BÀI CHÒI XỨ QUẢNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HOÁ

 

TS. Trần Đình Hằng

Phân Viện Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung

 

1. Tính dân gian và khả năng thích ứng của một di sản văn hoá

 Bài chòi là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo, một hình thức nghệ thuật trình diễn dân gian tổng hợp đặc sắc của người Việt ở miền Trung, kết hợp giữa âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học, đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (ngày 07/12/2017, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc).

Bài chòi gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người dân lao động, mang đậm yếu tố nội sinh trong môi trường lao động nông thôn Nam Trung Bộ, từ một trò chơi giải trí (đánh bài) giữa những người nông dân canh chòi về sau được nghệ thuật hóa. Người chơi đã nghệ thuật hóa việc hò hát đối đáp và tâm tình thành các câu thai (câu đố) theo lối thơ ca lục bát và từ đó, Bài Chòi dần trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu vào các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán.

Giá trị của Bài Chòi thể hiện qua tính đa dạng trong thống nhất về sắc thái địa phương, phản ánh đời sống tinh thần và vật chất của cư dân Nam Trung Bộ, gắn liền hệ giá trị lao động và sinh kế bởi nó thoát thai từ sinh hoạt tinh thần và cố kết cộng đồng của người nông dân sau thời gian lao động đồng áng mệt nhọc. Về phương diện nghệ thuật, bài Chòi sử dụng 4 làn điệu cơ bản (Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hò Quảng), với làn điệu có chất nhạc và lời ca tươi khỏe, trong sáng, đậm nét trữ tình. Trên phương diện xã hội, bài Chòi cũng tái hiện tinh thần dân chủ làng xã và trật tự xã hội truyền thống bao gồm cả hệ giá trị pháp lý lẫn luân lý (mô hình chín chòi và trung tâm điều khiển và là không gian để cộng đồng thể hiện nguyện vọng, khát vọng tự tình đôi lứa). Hơn nữa, nét đặc sắc cần chú ý là nội dung của nó phản ánh thực trang xã hội sâu sắc, như đả kích lễ giáo phong kiến hủ lậu cực đoan, những thói hư tật xấu và đề cao giá trị nhân bản (tình chung thủy, lòng hiếu thảo, trung nghĩa)…

Điểm đáng chú ý là ở bài Chòi, nổi bật tính dân gian và khả năng biến đổi thích ứng, cơ biến. Tính dân gian của Bài Chòi thể hiện rõ nét qua khả năng ứng tác linh hoạt của nghệ nhân và sự thích ứng trong bối cảnh đương đại. Trong diên xướng và ứng tác, vai trò trung tâm thuộc về Anh/Chị Hiệu (người quản trò), người có tài thuộc lòng hàng trăm câu thơ, dân ca, hò vè, và có biệt tài ứng khẩu linh hoạt trong những tình huống cụ thể đầy ngẫu hứng. Bài Chòi có hình thái đa dạng như hô Bài Chòi (Trò chơi, hình thức chơi tập thể, vui xuân, đậm chất dân gian), Bài Chòi Lớp/Chiếu (Kịch hát, phát triển từ Hô Câu Thai thành các trích đoạn truyện thơ, rồi kịch hát với nhiều nhân vật như đào, kép, trên sân khấu quy ước là chiếu, đất.

Nghệ thuật Bài Chòi được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, là niềm tự hào của người dân miền Trung, đặc biệt là với xứ Quảng nhưng đứng trước xu hướng hiện đại hóa mạnh mẽ thì Bài Chòi tất yếu cũng bị tác động ảnh hưởng và phải trải qua những biến đổi sâu sắc. Thực tế đó vừa là cơ hội để tồn tại và đồng thời cũng vừa là thách thức lớn trong việc giữ gìn bản sắc truyền thống với những biểu hiện có thể nói là “nguyên gốc” nhất trong điều kiện và hoàn cảnh có thể.

Từ đó, dẫn đến vấn đề thích ứng đương đại bởi trong bối cảnh hiện nay, Bài Chòi đã có sự biến đổi để thích nghi, chuyển từ không gian thôn làng lên không gian đô thị (quảng trường, phố đi bộ) như một loại hình nghệ thuật đường phố. Bài chòi được lồng ghép trong các hoạt động du lịch và tuyên truyền pháp luật/chính sách, như mô hình ở Đà Nẵng và Khánh Hòa, để tiếp tục sống và lan toả hiệu ứng tích cực trong đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, sự biến đổi này cũng đặt ra thách thức về nguy cơ mai một làn điệu cổ, bị pha tạp và khủng hoảng khán giả/nghệ nhân truyền thừa, đòi hỏi ngành văn hoá và các tỉnh thành phải có giải pháp đồng bộ để bảo tồn giá trị cốt lõi của di sản Bài Chòi một cách hữu hiệu, phù hợp với thực tiễn địa phương. Với Đà Nẵng hiện nay, điều đó càng mang nhiều ý nghĩa cấp thiết, cả về khoa học lẫn thời sự, bởi đây là một siêu đô thị trải dài trên một địa bàn rộng lớn từ sự sáp nhập Đà Nẵng và Quảng Nam , làm cho nó gần trở lại như tiểu vùng xứ Quảng trước đây.

2. Sự biến đổi của nghệ thuật Bài Chòi Xứ Quảng trước xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Hiện nay, sự biến đổi của Bài Chòi diễn ra đồng thời theo hai chiều hướng song song là bảo tồn tính nguyên gốc và thích nghi, đổi mới để tồn tại và phát triển một cách hài hoà, phù hợp.

2.1. Biến đổi về hình thức diễn xướng

Từ một trò chơi dân gian đến một hình thức sân khấu. Xét trên các khía cạnh mục đích, không gian biểu diễn, thời lượng, người hô hát, chúng ta có thể thấy bài Chòi truyền thống là một trò chơi dân gian (hát kết hợp chơi bài) trong các dịp lễ hội, Tết; tất cả được diễn ra trên 9 chòi tre được dựng giữa sân đình hay một không gian hữu cơ của một thiết chế văn hoá truyền thống, có một chòi cái (chòi trung tâm) và 8 chòi con; với thời lượng kéo dài cả ngày hoặc nhiều ngày, tùy thuộc vào số lần hô bài; người hô Bài/Diễn viên chủ yếu là Anh/Chị Hiệu (người hô bài), vừa là người điều khiển trò chơi, vừa là nghệ sĩ. Còn với bài Chòi hiện đại hóa (sân khấu hóa) thì tương ứng các yếu tố trên, lại là một nghệ thuật sân khấu độc lập, để biểu diễn thường xuyên nhằm phục vụ công chúng và khách du lịch; nó được diễn ra trên sân khấu cố định hoặc lưu động, đôi khi vẫn giữ mô hình chòi nhưng đơn giản hóa hoặc không còn chòi, thậm chí là chòi rạp kim loại phổ biến trong các loại hình làm dịch vụ hiện đại; các tiết mục được rút gọn, thường trong chừng 45-60 phút, thành các vở diễn hoặc trích đoạn ngắn và đặc biệt, ở đây đã có sự phân công rõ ràng hơn với các diễn viên sân khấu và nhạc công chuyên nghiệp.

Đặc biệt đáng chú ý, vấn đề sân khấu hóa là sự biến đổi lớn nhất, từ đó giúp Bài Chòi thoát khỏi giới hạn không gian và thời gian lễ hội truyền thống vào những thời điểm, những dịp hiếm hoi trong năm để trở thành một sản phẩm văn hóa có thể biểu diễn thương mại, mang lại thu nhập, nhưng đồng thời cũng làm giảm đi tính ngẫu hứng, dân dã và sự tương tác trực tiếp với khán giả như một trò chơi mà Bài Chòi truyền thống thường luôn được thể hiện rõ.

2.2. Biến đổi về nội dung và âm nhạc

Trước hết là về nội dung kịch bản. Nếu như trước đây tham chiếu những tác phẩm được coi là nguyên gốc thì phần hô/hát Bài Chòi chủ yếu là các câu thơ lục bát, song thất lục bát ngẫu hứng, ca ngợi cảnh vật, tình yêu đôi lứa và cả châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội... thì đối với những tác phẩm hiện đại hoá, đã có sự dịch chuyển dần sang dàn dựng các vở diễn có cốt truyện hoàn chỉnh, với đầy đủ các bước mở đầu, cao trào và kết thúc. Không những thế, trong nội dung còn mở rộng sang các đề tài lịch sử, cách mạng, hoặc những vấn đề thời sự mà xã hội hiện đại quan tâm.

Trong âm nhạc, hô hát Bài Chòi truyền thống thường sử dụng các làn điệu dân ca Khu V (Miền Trung) với nhạc cụ dân gian mộc mạc như đàn nhị, sáo, trống, sanh tiền thì với cách tiếp cận hiện đại, người ta lại có xu hướng phối khí phức tạp hơn, bổ sung thêm một số nhạc cụ hiện đại hoặc dàn nhạc lớn hơn để tăng thêm tính hấp dẫn mà vẫn cố gắng giữ lại hệ thống làn điệu gốc, như Xuân Nữ, Xàng Xê, Hồ Quảng.

Qua đó có thể thấy việc mở rộng nội dung đã giúp Bài Chòi tiếp nhận và chuyển tải tính thời sự cấp thiết và đa dạng hơn. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là nếu quá lạm dụng phối khí hiện đại thì có thể làm biến dạng các làn điệu gốc, làm mất đi sự mộc mạc, gần gũi vốn có của món nghệ thuật dân gian đặc trưng ở nông thôn Nam Trung bộ này.

2.3. Biến đổi về tính chất văn hóa và xã hội

Điểm dễ nhận ra trước tiên là tính cộng đồng bởi trước đây, Bài Chòi vốn là hoạt động mang tính sinh hoạt chung của toàn bộ cộng đồng cư dân làng xã nhưng hiện nay, theo hướng hiện đại hoá thì nó đã được chuyển thành hoạt động của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, làm giảm sự tham gia tương tác trực tiếp của người dân.

Thứ hai là tính bảo tồn, từ một di sản văn hoá, nghệ thuật diễn xướng dân gian, Bài Chòi đã được di sản hoá với một hồ sơ quy mô, trên một địa bàn rộng khắp để nâng tầm thế giới khi được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ đó, thu hút ngày càng mạnh mẽ sự quan tâm của bạn bè quốc tế và nhất là khẳng định được vai trò, sứ mệnh của một di sản để nhận được sự quan tâm và đầu tư lớn từ nhà nước, ngành văn hoá và các địa phương ở miền Trung. Đồng thời, hiện thực đó đã đưa đến việc phục dựng có chọn lọc và chuẩn hóa các làn điệu, tránh bị mai một.

Sau cùng là tính kinh tế. Rõ ràng là trong bối cảnh hiện nay, Bài Chòi đã có sự dịch chuyển từ hoạt động thuần tuý vui chơi giải trí, hoạt động phi lợi nhuận (chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng thông qua nghi lễ cúng tế và sau đó là hội hè vui chơi) sang một sản phẩm du lịch có khả năng tạo ra công ăn việc làm, tạo thu nhập cho các nghệ nhân và đoàn hát cũng như các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cả một sân khấu đông đảo.

2.4. Một số khía cạnh liên quan khác

Trước hết là sự biến đổi về không gian và cấu trúc, bởi Bài Chòi truyền thống thường diễn ra chủ yếu trong các dịp lễ hội, Tết Nguyên Đán của cộng đồng làng xã trong không gian nông thôn. Không gian hữu cơ truyền thống đó gắn liền với 9 chòi tre được dựng trên sân đình, nơi khán giả tham gia trực tiếp vào trò chơi rút thẻ và hô bài, nổi bật với tính ngẫu hứng và tương tác cộng đồng một cách mạnh mẽ trở thành linh hồn và tinh thần cốt lõi. Trong khi đó đối với thể loại Bài Chòi hiện đại thì để phục vụ biểu diễn thường xuyên gắn liền với mục đích chính trị - xã hội cũng như phát triển du lịch, Bài Chòi đã được được sân khấu hóa. Các vở diễn được tổ chức trên sân khấu cố định hoặc lưu động, với thời lượng rút gọn, thông thường là dưới 60 phút cho phù hợp với nhu cầu thưởng thức của lớp khán giả mới hầu như lắng nghe và quan sát một chiều mà gần như thiếu sự tương tác gần gũi như Bài Chòi truyền thống. Mô hình 9 chòi có thể được giữ lại như một biểu tượng có tính chất trang trí nhưng chức năng trò chơi bị giảm thiểu để nhường chỗ cho tính chất biểu diễn nghệ thuật của một đơn vị chuyên nghiệp. Khoảng cách giữa người hô hát và người chơi do vậy trở thành rào cản vô hình rất khó xử lý, làm giảm tính chất và sức sống vốn có của Bài Chòi truyền thống.

Thứ hai là biến đổi về vai trò người hô bài. Vai trò của Anh/Chị Hiệu - người vừa hô bài, vừa hát đối đáp, vừa điều khiển trò chơi - nay đã được phân hóa một cách rõ rệt. Thay vì sự ngẫu hứng tức thời, diễn viên phải học thuộc kịch bản, lời ca, và biểu diễn theo cấu trúc sân khấu với thời lượng, phân đoạn cụ thể. Điều này giúp vở diễn có vẻ chặt chẽ, dễ dàn dựng nhưng đồng thời lại làm giảm đi tính chất dân dã gần gũi, sự ứng tác sinh động vốn là linh hồn cốt lõi xuyên suốt của Bài Chòi truyền thống xứ Quảng.

Thứ ba là biến đổi, đổi mới trong nội dung, làn điệu và khán giả, bởi để thích nghi với nhu cầu thị hiếu mới của lớp khán giả mới tuỳ tính chất và không gian cụ thể nên nội dung và âm nhạc của Bài Chòi cũng có sự thay đổi tương ứng. Đầu tiên là nội dung kịch bản mở rộng nếu so sánh với nguyên bản thì nội dung xoay quanh những lời thơ lục bát, song thất lục bát ca ngợi cảnh sắc, cuộc sống, và những mẩu chuyện châm biếm thường ngày… thì trong nhu cầu hiện đại hoá, các đoàn nghệ thuật đã phải mạnh dạn dàn dựng thành những vở diễn có cốt truyện hoàn chỉnh với các đề tài rộng lớn hơn, liên quan chặt chẽ đến di sản lịch sử, truyền thuyết, hay các vấn đề xã hội đương đại. Việc này giúp Bài Chòi có tính thời sự và dễ dàng thu hút khán giả hơn nhưng đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu phải cân bằng hài hoà,hợp lý để không làm mất đi giọng điệu và hơi thở dân gian bền vững xuyên suốt của nó.

Liên quan trực tiếp tới vấn đề này, cũng cần chú ý đến những thay đổi trong phối khí và âm nhạc thích nghi, bởi các làn điệu Bài Chòi truyền thống như Xuân Nữ, Xàng Xê, Cổ Bản vẫn là nền tảng căn bản nhưng việc sử dụng nhạc cụ đã được cải tiến. Trong nhiều trường hợp, một số đoàn nghệ thuật năng động bổ sung vào các nhạc cụ hiện đại, hoặc tăng cường quy mô dàn nhạc để tạo âm thanh phong phú và đa dạng hơn. Mặc dù khát vọng muốn giúp tăng sự hấp dẫn nhưng vấn đề cần được kiểm soát chặt chẽ và nghiêm túc để bảo đảm giữ nguyên sự mộc mạc và chất dân ca Miền Trung trong di sản Bài Chòi.

3. Những thách thức và định hướng phát triển

Trước tác động của bối cảnh xã hội, nhất là những yếu tố từ bên ngoài ngày càng trực tiếp và mạnh mẽ thì xã hội truyền thống nói chung và di sản nghệ thuật diễn xướng dân gian như trường hợp Bài Chòi luôn biến đổi là điều tất yếu. Vấn đề đặt ra là trong hoàn cảnh bức bách đó, yếu tố nội lực và bản sắc từ phía chủ thể di sản, không gian sống của di sản từ phía cộng đồng địa phương cần được củng cố để thích ứng phù hợp, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực phù hợp để di sản vẫn tiếp tục sống dưới những lớp áo văn hoá mới nhưng vẫn giữ được hồn cốt căn tính của di sản. 

Trong thời đại kỹ thuật số, Bài Chòi đứng trước nhiều thách thức trong kỷ nguyên hiện đại bởi dù có nhiều nỗ lực đổi mới thì Bài Chòi xứ Quảng vẫn đối mặt với ba thách thức lớn cần được quan tâm xử lý. Đó là:

- Khủng hoảng kế thừa: Di sản Bài Chòi mà cụ thể là những nghệ nhân hô hát bài chòi không thu hút được lực lượng trẻ tham gia bởi thu nhập thấp cùng nhiều nguyên nhân thực tế khác, trong đó có sự lấn át bao trùm của sức hấp dẫn đến từ các loại hình giải trí hiện đại. Sự thiếu hụt các nghệ nhân có khả năng hô/hát ngẫu hứng chất lượng cao là mối đe dọa lớn nhất, trở thành vấn đề sống còn đối với tính nguyên gốc của di sản Bài Chòi.

- Nguy cơ lai tạp: Xã hội hiện đại với áp lực thương mại hóa và phục vụ du lịch ngày một phổ biến có thể dẫn đến việc làm mới quá đà, khiến cho Bài Chòi bị đồng hóa, lai tạp với các loại hình sân khấu khác, đánh mất đi sự duyên dáng đặc trưng riêng biệt của mình.

- Khoảng cách với khán giả trẻ: Ngôn ngữ và tiết tấu truyền thống của Bài Chòi khó tiếp cận với giới trẻ. Cần có các chương trình giáo dục nghệ thuật tại trường học và việc tận dụng các nền tảng số để thu hẹp khoảng cách này.

Cho nên, sự biến đổi của Bài Chòi xứ Quảng là một quá trình tất yếu để tồn tại trong dòng chảy văn hóa hiện đại. Việc sân khấu hóa và thương mại hóa đã giúp di sản này được bảo tồn và phát huy rộng rãi hơn, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch tại một số trường hợp tiêu biểu như Hội An và đô thị trung tâm thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, con đường phát triển bền vững phải nằm ở sự cân bằng khi đồng thời phải đổi mới về hình thức và nội dung để thu hút khán giả mới và vừa phải tôn trọng, bảo tồn kỹ thuật diễn xướng, làn điệu và tinh thần dân dã truyền thống nguyên gốc của một trò chơi dân gian miền quê nông thôn. Chỉ khi nào giữ được hồn cốt căn bản đó thì Bài Chòi xứ Quảng mới có thể tiếp tục vang vọng giữa lòng cuộc sống hiện đại mà không bị bức tử hay đồng hoá, biến dạng.

Thực tế đó đã mang lại nhiều nguy cơ và thách thức cần lưu ý, mà cụ thể và trực tiếp nhất là từ ba khía cạnh nổi bật:

3.1. Gìn giữ những hồn cốt, căn tính gốc của truyền thống 

Một khi mọi thứ thay đổi, nhất là cộng đồng người thưởng ngoạn thay đổi với tính chất xa lạ bởi chỉ muốn khám phá một di sản mới đáp ứng nhu cầu, thị hiệu trước mắt có tính tò mò, rồi sự lạm dụng các hình thái vật chất tác động trực tiếp vào di sản Bài Chòi… mà cộng đồng chủ thể không biết làm chủ tình hình, nâng niu những giá trị bền chặt của di sản mà tiền nhân đã trao truyền thì họ sẽ dễ bị cuốn vào sự tác động đó và tất yếu, Bài Chòi sẽ bị thay đổi nhanh chóng. Chính vì vậy, ở đây cần chú ý để tránh nguy cơ đó, bởi nó sẽ dẫn tới tình trạng cực đoan khi muốn làm mới quá đà di sản Bài Chòi, làm cho nó mất đi tính mộc mạc, tính độc đáo và biến dạng hay bị lẫn với các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian, trình diễn sân khấu khác. 

Chính nhiệt huyết và tri thức bản địa của cộng đồng, sự chung tay của các nhà nghiên cứu và nhà quản lý sẽ giúp định vị hệ giá trị căn cốt của di sản Bài Chòi, từ đó đảm bảo sự cân bằng giữa đổi mới và bảo tồn những giá trị cốt lõi. Đây là điều rất khó nhưng luôn mang tính khả thi cao bởi tính bền vững của những giá trị truyền thống trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam.

3.2. Lớp khán giả kế cận:

Từ sự tác động và biến đổi ngày càng mạnh mẽ của đời sống xã hội, nhất là trong xu hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ của các thành phần xã hội, của người dân luôn thay đổi tương ứng, đặc biệt là với lớp trẻ. Chính môi trường xã hội và cũng chính từ lớp trẻ, trước ngã ba đường của thời hiện đại với ngập tràn công nghệ và thông tin, họ cũng gặp phải và đặt ra quá nhiều nhu cầu và áp lực để học tập, rèn luyện và vươn lên nên chắc chắn, họ thiếu nhiều thời gian và tâm sức đối với di sản nghệ thuật truyền thống. Cái mới luôn hấp dẫn và lôi cuốn họ bởi họ có nhiều sự lựa chọn mà họ cho là hợp lý, hấp dẫn hơn đối với tâm lý lứa tuổi của lớp trẻ.

Chính vì vậy, các loại hình di sản nghệ thuật truyền thống nói chung và trường hợp Bài Chòi nói riêng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp, biết viết nên những câu chuyện gần gũi thân thương gắn liền với lịch sử và văn hoá quê hương, từ những địa danh, nhân danh, sản vật quê hương làng xã thôn xóm truyền thống để từng bước hấp dẫn, thu hút lớp trẻ. Ở đây, tuỳ từng bối cảnh và thực tiễn của địa phương mà có các giải pháp phù hợp nhưng điểm chung nhất là cần có giải pháp để đưa Bài Chòi vào trường học theo xu hướng gắn liền đồng thời đưa di sản văn hoá đến với học đường và đưa học đường đến với di sản văn hoá. Trong trường hợp này, việc kế thừa, sử dụng tối ưu các nền tảng số để tiếp cận nhóm khán giả trẻ tuổi cần được chú trọng đầu tư.

3.3. Vấn đề đào tạo nghệ nhân:

Không chỉ lớp trẻ mà các giai tầng xã hội trung niên hay cao niên cũng chịu tác động nghiệt ngã của đời sống xã hội hiện đại. Chính môi trường thôn dã mộc mạc, sự đam mê một hình thái nghệ thuật dân gian phù hợp với lối sống bình dị của người nông dân đã làm nên giá trị độc đáo của di sản Bài Chòi xứ Quảng. Điều đó đã gặp phải nhiều tác động, biến đổi mạnh mẽ từ bối cảnh xã hội nên nghệ nhân dân gian hiếm hoi dần, nhất là với các bậc cao niên. 

Từ đây, cần có chính sách đãi ngộ tốt, xây dựng môi trường hoạt động chuyên môn phù hợp để đào tạo, nuôi dưỡng, thu hút và giữ chân các nghệ nhân trẻ có tố chất, có khả năng hô/hát Bài Chòi một cách ngẫu hứng, bởi đây là một kỹ năng cốt lõi để làm nên sức sống của Bài Chòi.

Với những phân tích ở trên, có thể thấy sự biến đổi của Bài Chòi xứ Quảng là sự chuyển mình cần thiết có tính tất yếu, từ một trò chơi dân gian thuần tuý dần chuyển sang một hình thái nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp. Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc cần đồng thời tạo nên môi trường hữu cơ thuận lợi, khuyến khích Bài Chòi dân gian được nuôi dưỡng và có cơ hội thực hành từ chính đời sống sản xuất nông nghiệp và đời sống văn hoá tinh thần, lễ nghi tín ngưỡng của cộng đồng cư dân xứ Quảng. Từ hai cách tiếp cận bên trong và bên ngoài như vậy, hy vọng nó sẽ giúp Bài Chòi duy trì mạch sống từ nguồn cội, lan tỏa và tạo ra những giá trị mới trên phương diện bảo tồn và phát triển, nhất là giá trị phát huy tinh hoa nghệ thuật diễn xướng Bài Chòi và cả những giá trị kinh tế theo hướng chuyên nghiệp. Tuy nhiên, xuyên suốt ở đây vẫn cần một tinh thần và thái độ thận trọng, trọng thị từ nhiều phía, từ những bước đi cụ thể cho tới chiến lược dài hơi, để không làm mất đi hồn cốt của di sản Bài Chòi trong đời sống văn hoá dân gian xứ Quảng.

4. Tham chiếu một số trường hợp

Ở đây, chúng tôi cho rằng việc tham khảo các kết quả nghiên cứu về chủ đề tương tự ở nước ngoài là rất cần thiết, nhất là về sự biến đổi của di sản nghệ thuật diễn xướng trước xu hướng hiện đại hóa vốn là một chủ đề học thuật rất phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu biểu diễn, dân tộc học và bảo tồn di sản.

4.1. Một số khái niệm về khung lý thuyết chính

Trong lĩnh vực này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng những khung lý thuyết căn bản sau đây để phân tích sự biến đổi của nghệ thuật diễn xướng:

- Tính xác thực/Tính nguyên gốc (Authenticity): Đây là một khái niệm có tính trung tâm trong vấn đề bảo tồn di sản văn hoá. Thông thường thì các nhà nghiên cứu luôn tranh luận gay gắt về việc làm thế nào để duy trì "tính xác thực" của một loại hình nghệ thuật khi nó buộc phải thay đổi để tồn tại, mà chúng ta thường gọi nôm na là hiện đại hoá (modernization).

- Tính xác thực được giàn dựng (Staged Authenticity), hay là di sản văn hoá phi vật thể với vấn đề hiện đại hoá (Intangible Cultural Heritage vs. Modernity) sẽ rất hữu hiệu khi phân tích quá trình tiếp xúc, va đập gây nên sự căng thẳng giữa các giá trị truyền thống của di sản văn hoá phi vật thể và nhu cầu thích ứng với thị trường, công nghệ, và thị hiếu đương đại. Như khái niệm Tính xác thực được dàn dựng của Dean MacCannell tuy ban đầu gần như chỉ dành cho du lịch nhưng ngày càng lại thường được áp dụng để mô tả các buổi biểu diễn truyền thống phục vụ khách du lịch.

- Kho tiết mục và quá trình hình thành hệ chuẩn (kinh điển) [Repertory and Canon Formation] là cách cách mà người ta nghiên cứu phương thức các đoàn nghệ thuật quyết định giữ lại, hay loại bỏ, hoặc làm mới các vở diễn (cũng như làn điệu) truyền thống (repertory) sao cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khán thính giả hiện đại.

- Toàn cầu hoá và bản địa/địa phương hoá (Globalisation and Localisation) nhằm nhấn mạnh sự tiếp xúc, va chạm và giao lưu giữa văn hóa toàn cầu (như các hình thức âm nhạc và sân khấu phương Tây hiện đại, xa lạ) và nỗ lực bản địa hóa, hay thường được gọi là quá trình địa phương hóa của nghệ thuật truyền thống. Đối với những nước có địa - chính trị và lịch sử - văn hoá đặc thù như Việt Nam thì đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu về tiếp xúc, giao lưu văn hoá suốt chiều dài lịch sử và văn hoá dân tộc, nổi bật từ các trào lưu ảnh hưởng bởi phía Bắc, phía Nam, phía Tây và cả phía Đông với văn minh phương Tây.

4. 2. Tham khảo một số trường hợp nghiên cứu tiêu biểu 

Từ trước đến nay, có thể thấy có nhiều tài liệu nghiên cứu nước ngoài đã tập trung vào các loại hình nghệ thuật cụ thể đang đối diện với vấn đề hiện đại hóa ngày càng khốc liệt, như với các trường hợp:

- Kinh kịch ở Trung Quốc (Peking Opera) với nội dung biến đổi chính yếu là về về âm nhạc, trang phục, và dàn dựng sân khấu để thu hút khán giả trẻ; áp lực từ vấn đề thương mại hóa....

- Nhã nhạc Nhật Bản (Gagaku) cố gắng đưa nghệ thuật cung đình này ra khỏi cung điện, kết hợp với âm nhạc đương đại để tăng cường tính tiếp cận ra bên ngoài.

- Nghệ thuật Múa Kandy của Sri Lanka có sự chuyển đổi từ từ nghi lễ tôn giáo sang biểu diễn sân khấu, đối mặt với các vấn đề về tính xác thực của trang phục và động tác biểu diễn cũng như bao gồm cả câu chuyện thương mại hoá.

- Nghệ thuật Hát/Múa truyền thống Ấn Độ, như Kathakali, Bharatanatyam, trong đó nhấn mạnh sự thay đổi về phương pháp truyền dạy (từ gurukul sang học viện), và sự xuất hiện của nghệ sĩ nữ trong vai trò truyền thống của nam giới vốn đè nặng trong xã hội Ấn Độ từ xưa đến nay.

4.3. Một số kết quả nghiên cứu 

Có thể có nhiều các kết quả nghiên cứu (bài báo, sách chuyên khảo…) của nhiều tác giả trên thế giới có liên quan đến sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật diễn xướng, mà ở đây trong khuôn khổ và giới hạn của chuyên đề này, chúng tôi muốn tham khảo một số công trình có nhiều giá trị gần gũi, tương đồng để ứng dụng một cách thiết thực.

4.3.1. Nghiên cứu về tính linh hoạt và tính xác thực (Authenticity):

Các nghiên cứu này tập trung vào việc giải quyết làm thế nào để nghệ thuật truyền thống có thể thay đổi mà vẫn giữ được giá trị cốt lõi mà cộng đồng đã kiến tạo nên từ sự bền vững của truyền thống.

- Khi nghiên cứu về "Conceptualising the subjective authenticity of intangible cultural heritage" (Khái niệm hóa tính xác thực chủ quan của di sản văn hóa phi vật thể), Junjie Su từ năm 2018 đã nhấn mạnh rằng, đối với di sản văn hoá phi vật thể mà chúng ta có thể tham chiếu cho trường hợp Bài Chòi, thì tính xác thực (authenticity) không nên chỉ được đánh giá bằng các tiêu chí khách quan (objective/historical originality) mà thay vào đó là tính xác thực chủ quan, có nghĩa đó là cảm nhận và sự định nghĩa giá trị văn hóa của chính cộng đồng chủ nhà (họ là những nghệ nhân, người dân địa phương) mới là yếu tố quan trọng hơn. Vậy thì từ đây, có thể áp dụng cho trường hợp nghiên cứu di sản Bài Chòi, điều này ủng hộ quan điểm rằng sự thay đổi của Bài Chòi do cộng đồng người dân xứ Quảng thực hiện để thích nghi với cuộc sống hiện đại vẫn có thể được coi là "xác thực" (authentic) đối với họ, ngay cả khi nó không còn giống hệt như phiên bản lịch sử mà chúng ta thường câu nệ là nguyên bản truyền thống, có phần cực đoan khi cho rằng phải giữ y nguyên những cái từ cổ xưa. Thế ứng xử, thái độ ứng xử của cộng đồng cư dân chủ thể di sản cần đặc biệt được coi trọng, tránh tình trạng dẫn dắt và định hướng từ bên ngoài, một khi càng thiếu thực tế và bất hợp lý thì càng làm cho cộng đồng cư dân chủ thể, tính bản địa của họ bị đổ vỡ, mai một.

- Cũng với tác giả Junjie Su, từ năm 2021 đã tập trung giải quyết vấn đề “A Difficult Integration of Authenticity and Intangible Cultural Heritage? The Case of Yunnan, China" (Sự tích hợp khó khăn giữa Tính xác thực và Di sản văn hóa phi vật thể? Trường hợp Vân Nam, Trung Quốc). Nội dung cốt lõi ở đây là ông đi sâu phân tích sự căng thẳng giữa các tổ chức quốc tế (như UNESCO) và phương thức cộng đồng địa phương diễn giải tính xác thực của di sản. Bài viết này đã đề cập đến ý kiến cho rằng việc áp dụng thuật ngữ "authenticity" vào di sản văn hoá phi vật thể có thể "không phù hợp" vì di sản văn hoá phi vật thể về bản chất là "động" và được tái tạo liên tục.

4.3.2. Nghiên cứu về sự chuyển đổi và thích ứng trong nghệ thuật biểu diễn hiện đại

Trong khía cạnh này, các nghiên cứu đã phân tích phương thức mà nghệ thuật truyền thống pha trộn với các yếu tố hiện đại và trên phương diện toàn cầu hóa, đơn cử với một số kết quả nghiên cứu quan trọng.

- Khi nghiên cứu về "Transformations of tradition in modern performing arts practices" (Sự chuyển đổi của truyền thống trong các hoạt động nghệ thuật biểu diễn hiện đại), Duarte Pinto (2025) đã giải quyết nội dung cốt lõi khi lập luận rằng truyền thống không phải là một di sản tĩnh, mà là một quá trình năng động được định hình bởi nhiều thử nghiệm nghệ thuật, tiến bộ công nghệ và chuyển đổi xã hội một cách thiết thực qua thời gian. Bài viết nhấn mạnh cách các loại hình như sân khấu và âm nhạc tái cấu trúc kho tàng (inherited repertoires), hòa trộn với thẩm mỹ hiện đại và công nghệ số để duy trì sự liên quan đầy hữu hiệu.

- Ở đây, có thể tham khảo một trường hợp điển hình của Hàn Quốc của Jan Creutzenberg từ năm 2019 về "Between preservation and change: performing arts heritage development in South Korea" (Giữa bảo tồn và thay đổi: phát triển di sản nghệ thuật biểu diễn ở Hàn Quốc). Công trình này đã đi vào nghiên cứu so sánh các hình thức nghệ thuật Hàn Quốc và chỉ ra rằng những nghệ sĩ đã chuyên nghiệp hóa sớm và có thể thích ứng với bối cảnh mới của thị trường (market-oriented modernity) nên họ có cơ hội tồn tại và phát triển cao hơn hẳn những người còn lại. Điều đó đã có thể giúp chúng ta một sự gợi ý tích cực rằng việc Bài Chòi, hay Tuồng xứ Quảng khi chuyển sang sân khấu chuyên nghiệp và thương mại hóa cũng có thể là một cơ chế sinh tồn và phát triển cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

4.3.3. Nghiên cứu về hiện đại hóa sân khấu Châu Á và Toàn cầu hóa

Nội dung nghiên cứu của hai tác giả Yasushi Nagata, Ravi Chaturvedi từ năm 2019 về "Modernization of Asian Theatres: Process and Tradition" (Hiện đại hóa sân khấu Châu Á: Quá trình và Truyền thống) đề cập đến mối quan hệ căng thẳng đẫn tới cuộc xung đột ngày càng gia tăng giữa truyền thống và hiện đại trong lịch sử nghệ thuật sân khấu Châu Á. Cuốn sách này đi vào thảo luận về việc các nước Châu Á, trong quá trình bảo tồn hình thức và giá trị truyền thống tát yếu cũng phải đối mặt với các cơ chế và giá trị mới của phương Tây hiện đại. Điều này tạo môi trường và cơ chế đưa đến sự xuất hiện của các thể loại lai (hybrid genres), nơi các hình thức nghệ thuật diễn xướng địa phương được thích ứng một cách có thể nhất.

Khi nghiên cứu về vấn đề hiện đại hoá sân khấu Thái Lan, cũng có thể thấy rõ các nghệ sĩ đã cố gắng chuyển thể các tác phẩm truyền thống để đưa lên sân khấu hiện đại nhằm tìm kiếm một lối đi, bản sắc riêng cho sân khấu Thái Lan, thay vì chỉ mô phỏng kịch phương Tây. Từ bối cảnh cho đến những diễn biến cụ thể của quá trình chuyển dịch của sân khấu Thái Lan dưới áp lực của hiện đại hóa và toàn cầu hóa được đặt ra và phân tích kỹ càng. Một hướng đi hữu ích trong nghiên cứu của bà Rutnin là ở chương nghiên cứu về kịch (drama) và sân khấu (theatre) có thể coi như một tài liệu nền tảng quan trọng. Ở đó, bà phân tích phương thức mà các nghệ sĩ Thái Lan đấu tranh để tạo ra kịch bản và phong cách biểu diễn mới, phản ánh xã hội trong khi vẫn bám rễ vào các hình thức truyền thống. Riêng trong việc phác thảo nên Diện mạo thay đổi của sân khấu Thái Lan: từ Nhà Vua đến Nhân dân, tác giả Philip Dancer đã trực tiếp đề cập đến sự thay đổi về vai trò và nội dung của sân khấu Thái Lan, nhất là trong bối cảnh các sự kiện chính trị và xã hội luôn diễn ra ngày càng mạnh mẽ kể từ những năm 1970 trở đi bơi có thể coi đây là một giai đoạn mà các nghệ sĩ tìm cách phản ánh "thực tế xã hội đương đại" ở Thái Lan. Đặc biệt trong luận án tiến sĩ ở đại học Exeter (University of Exeter, United Kingdom) từ năm 2012 đã tập trung trực tiếp vào sự phát triển của sân khấu Thái Lan hiện đại hóa và đương đại theo hướng tiếp cận liên văn hóa đối với tính hỗn hợp sân khấu, từ đó làm nổi bật quá trình tìm kiếm và kiến tạo bản sắc Thái. Theo đó, xu hướng hiện đại hóa sân khấu Thái Lan nhằm tìm kiếm một hình thức hỗn hợp thông qua tiếp cận liên văn hóa với luận điểm chính là sân khấu đương đại dựa trên truyền thống. Đó là một dạng hỗn hợp, kết quả của sự dung hợp văn hóa và hòa trộn, kết hợp cả thẩm mỹ quốc gia Thái Lan và dạng thức liên văn hóa khi nổi bật sự kết hợp giữa các yếu tố hiện đại và truyền thống, nước ngoài và bản địa, thành thị và nông thôn… nhằm phát triển thành hình thức Likay đương đại (contemporary likay). Với chiến lược "Không sao chép", kể từ những năm 1900 thì mô-típ sân khấu phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến sân khấu Thái Lan nhưng các nghệ sĩ Thái Lan đã thể hiện sự đổi mới bằng cách điều chỉnh các quy ước nghệ thuật cho phù hợp với các mục tiêu mới và cá nhân. Họ thực hiện điều này mà không cần phải nhập khẩu toàn bộ phong cách phương Tây. Nhờ đó, sự kết hợp văn hóa này đã dẫn đến một loại hình sân khấu hậu hiện đại Thái Lan, khôi phục di sản văn hóa Thái Lan và thu hút khán giả, nhà phê bình, và học giả đương đại. Ở loại hình sân khấu liên văn hóa này, tương tự như liên văn hóa sân khấu châu Á, nó đạt được sự cân bằng giữa việc vay mượn kỹ thuật sân khấu phương Tây, như kỹ thuật viết kịch, dàn dựng, để mang lại ý nghĩa xã hội cho khán giả hiện đại cũng như cho việc bảo tồn các hình thức và thẩm mỹ châu Á để cung cấp cội rễ văn hóa và đảm bảo sự liên tục của truyền thống văn hoá với mục tiêu cao cả giúp các nhà thực hành sân khấu Thái Lan khôi phục lại các truyền thống đang dần mai một.

5. Kết luận

Qua phân tích một số kết quả nghiên cứu, có thể nhận thấy sự biến đổi là tất yếu và có ý nghĩa sống còn nên các hình thức nghệ thuật diễn xướng truyền thống cũng phải thay đổi tương ứng cho hài hoà, phù hợp, từ kịch bản, dàn dựng cho đến khán giả…, để tránh bị lỗi thời. Điểm nữa là vấn đề công nghệ chính là công cụ hữu ích và ở đó, nổi bật vấn đề công nghệ số đang được xem là một con đường để hồi sinh và bảo tồn (như quay video 3D, hướng dẫn trực tuyến…). Hơn nữa, cũng đã đến lúc chúng ta không nên đóng khung khái niệm truyền thống và di sản mà cần xác định nhất quán quan điểm động bởi khái niệm bảo tồn không chỉ là đóng băng di sản mà là hỗ trợ khả năng tái tạo và thích ứng của cộng đồng đối với di sản đó và cả của di sản đối với cộng đồng mở.

Một số tài liệu tham khảo từ bên ngoài sẽ giúp cung cấp một khung lý thuyết vững chắc để tham chiếu và phân tích sự chuyển mình của Bài Chòi nói riêng và di sản nghệ thuật diễn xướng truyền thống Việt Nam nói chung, đặc biệt là trong việc đánh giá sự cân bằng giữa nhu cầu thương mại hóa và vấn đề bảo tồn bản sắc cốt lõi. Quá trình biến đổi của nghệ thuật Bài Chòi xứ Quảng có tính tất yếu (tính cơ biến) và là minh chứng rõ ràng cho sự đấu tranh sinh tồn của một di sản văn hóa phi vật thể trước bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ. Sự biến đổi này không phải là sự sao chép thụ động, mà là một nỗ lực tái tạo bản sắc có ý thức, tương đồng với xu hướng Hỗn hợp sân khấu đang diễn ra tại nhiều quốc gia châu Á, điển hình là Sân khấu Likay ở Thái Lan.

Sự chuyển dịch của Bài Chòi diễn ra trên hai chiều hướng song song là bảo tồn tính nguyên gốc (gìn giữ hồn cốt truyền thống) và thích nghi, đổi mới để mở rộng không gian sống. Từ đó, cần xác định hướng phát triển bền vững là cân bằng giữa đổi mới và căn tính gốc. Thực tế nghiên cứu và tham chiếu quốc tế (như sân khấu Thái Lan và Kinh kịch Trung Quốc) cho thấy con đường phát triển bền vững không nằm ở sự câu nệ vào phiên bản lịch sử, mà ở sự cân bằng hợp lý giữa đổi mới hình thức/nội dung để thu hút khán giả mới, và tôn trọng, bảo tồn tinh thần dân dã căn cốt. Do vậy vấn đề đặt ra cấp thiết là cần tăng cường nội lực và tri thức bản địa nhằm chú trọng gìn giữ hồn cốt, căn tính gốc thông qua sự chung tay của cộng đồng chủ thể di sản, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Vấn đề đào tạo và đãi ngộ là chiến lược đầu tư mạnh, với chính sách đãi ngộ tốt để thu hút và giữ chân nghệ nhân trẻ, nhất là nuôi dưỡng kỹ năng ứng tác ngẫu hứng - kỹ năng cốt lõi làm nên sức sống của Bài Chòi. Từ đó, phải tiếp cận khán giả trẻ để đưa Bài Chòi vào trường học và tận dụng tối đa các nền tảng số để thu hẹp khoảng cách thế hệ.

Chỉ khi giữ được mạch sống từ nguồn cội và có thái độ thận trọng, trọng thị trong từng bước đi cụ thể cho tới chiến lược dài hơi, thì Bài Chòi Xứ Quảng mới có thể tiếp tục vang vọng và lan tỏa giá trị giữa lòng cuộc sống hiện đại.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Bùi Trọng Hiền. (2013). Khái quát về nghệ thuật bài chòi. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (344), 28-32.

  2. Creutzenberg, J. (2019). Between preservation and change: performing arts heritage development in South Korea. Asian Education and Development Studies, 8(4), 485-497.

  3. Cục Di sản văn hoá. (2017). Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. https://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-bai-choi-trung-bo-viet-nam-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1535

  4. Dancer, P. (2012). The Changing Face of Thai Theatre: From the King to the People. Silkworm Books (Chiang Mai, Thailand).

  5. Đinh Thị Hựu, & Trương Đình Quang. (2012). Bài chòi xứ Quảng. Nxb. Lao động.

  6. Đoàn Việt Hùng. (2014). Bài chòi. Nxb. Văn hoá Thông tin.

  7. Hoàng Chương, & Nguyễn Có. (2008). Bài chòi và dân ca Liên khu 5. Nxb. Văn hoá Thông tin.

  8. Hoàng Chương. (2017). Bảo tồn và phát huy giá trị của bài chòi. Nxb. Sân khấu.

  9. Junjie Su. (2018). Conceptualising the subjective authenticity of intangible cultural heritage. International Journal of Heritage Studies, 24(9), 919-937.

  10. Junjie Su. (2021). A Difficult Integration of Authenticity and Intangible Cultural Heritage? The Case of Yunnan, China. Chinaperspectives, (3), 29-39.

  11. Nagata, Y., & Chaturvedi, R. (2019). The Modernization of Asian Theatres: Process and Tradition. Singapore: Springer.

  12. Nguyễn An Pha. (2019). Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định. Nxb. Văn hóa - Văn nghệ.

  13. Nguyễn Phú. (2021). Nghệ thuật bài chòi dân gian: Khó khăn, thách thức trong thời kỳ hội nhập. Văn hoá nghệ thuật, (459).

  14. Nguyễn Thị Thanh Xuyên, Ngô Đức Chí, & Hoàng Thị Thu Hương. (2024). Tiến trình phát triển, phục dựng và phát huy nghệ thuật bài chòi tỉnh Khánh Hoà trong xã hội đương đại. Tạp chí Khoa học Xã hội miền Trung, (72), 112-126.

  15. Nguyễn Thị Thanh Xuyên. (2024). Hô bài chòi và tiến trình tái bối cảnh: tính hiện đại và hội nhập của hô bài chòi trong xã hội đương đại. Văn hoá học, (72), 32-46.

  16. Nhiều tác giả. (2023). Di sản Bài chòi xứ Quảng. Nxb. Đà Nẵng.

  17. Nhiều tác giả. (2024). Những câu thai Bài chòi xứ Quảng. Nxb. Đà Nẵng.

  18. Phùng Tấn Đông. (2009). Sức xuân của trò diễn bài chòi. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (295), 93-96.

  19. Pinto, D. (2025). Transformations of tradition in modern performing arts practices. European Review of Contemporary Arts and Humanities, 1(1), 8-11.

  20. Quỳnh Trang, Â. T. (2023). Bảo tồn, phát huy nghệ thuật bài chòi tại thành phố Đà Nẵng: thực trạng, thách thức và giải pháp. Đại học Đà Nẵng: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 21(8), 12-16.

  21. Rutnin, M. M. (1993). Modern Thai Literature: The Process of Modernization and the Power of the Past. Thammasat University Press (Thailand).

  22. Sompiboon, S. (2012). The Reinvention of Thai Traditional-Popular Theatre: Contemporary Likay Praxis (Luận án Tiến sĩ). University of Exeter (United Kingdom).

  23. Tôn Thất Hướng. (2007). Chơi bài chòi ở Quảng Nam. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (2), 31-33, 35.

  24. Urry, J. (2002). The Tourist Gaze. SAGE Publications Ltd (Published in association with Theory, Culture & Society).

  25. Viện Âm nhạc, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định. (2015). Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế). Nxb. Lao động.

NGHỆ NHÂN BÀI CHÒI XỨ QUẢNG - TRUYỀN NHÂN VÀ TRUYỀN NGHỀ

NGHỆ NHÂN BÀI CHÒI XỨ QUẢNG - TRUYỀN NHÂN VÀ TRUYỀN NGHỀ

NGHỆ NHÂN BÀI CHÒI XỨ QUẢNG - TRUYỀN NHÂN VÀ TRUYỀN NGHỀ

 

Võ Thị Thanh Vân

Hội Văn nghệ dân gian TP.Đà Nẵng

 

I.VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI QUẢNG NAM 

Trong rất nhiều di sản văn hóa đặc sắc của khu vực miền Trung nói chung, Quảng Nam nói riêng nghệ thuật Bài chòi là di sản văn hóa quý giá, độc đáo. Đó là nét văn hóa đặc trưng của cùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ. Một số nhà nghiên cứu nhận định rằng: Nghệ thuật Bài chòi được hình thành và phát triển sau năm 1471 kể từ lúc người Việt từ phía Bắc vào khai phá vùng đất mở vùng đất phương Nam. “Bài chòi loại hình văn học dân gian, hình thành phát triển trong quá trình lao động sản xuất, giao lưu văn hóa của người Việt khi vào định cư khai phá vùng đất Đàng Trong”. Trò chơi bài chòi ra đời bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất, từ sự sáng tạo nghệ thuật của người dân lao động. “Lúc đầu trò chơi Bài chòi chỉ là hình thức dùng để xua đuổi chim, thú phá hại sản xuất. Người ta dựng những chòi canh liên hoàn bên các ruộng lúa, nương rẫy, căng dây gắn các vật dụng tạo ra tiếng động, gõ mõ, đánh phèng la khi có thú rừng đến quấy phá. Những lúc yên tĩnh từ chòi này hô hát với chòi kia để giải trí bằng lối ứng tác, đối đáp hoặc những bài ca điệu hát có sẵn…”. Qua thời gian, nghệ thuật Bài chòi được định hình và phát triển với nhiều hình thức phong phú, là sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian không thể thiếu của người dân lao động vùng nông thôn.

Trước đây, ở Quảng Nam vào dịp Tết Nguyên đán, hội Bài chòi dân gian thường được tổ chức ở sân đình, khu sinh hoạt văn hóa hoặc những khu đất rộng rãi trong làng. “Người ta dựng lên ở đó 09 cái chòi, có nơi 11 chòi. Chòi trung ương lớn hơn, cao hơn ở giữa các chòi hoặc các chòi còn lại dựng theo hai hàng song song với chòi trung tâm. Chòi trung tâm dành cho các vị chức sắc có thể ngồi được 5,6 người; chòi con khoảng 2,3 người. Nhà hội được làm ở đầu sân có bàn ghế, trà nước, quà thưởng, bánh trái, rượu… và là nơi hội họp của các chức sắc và Ban tổ chức. Xung quanh các chòi cắm cờ đuôi nheo và cờ tam giác đủ màu. Trước nhà hội cắm một cây Nêu làm bằng cây tre nhỏ, trảy hết mắt cành, chỉ còn lá ở đầu ngọn, một lá cờ hình vuông to được treo nghiêng ở trên đầu cây Nêu. Trước mỗi chòi con có gắn một khúc thân cây chuối nhỏ để đến khi tới một con bài, anh/ chị Hiệu cắm một lá cờ nhỏ hình tam giác vào đó, cắm cây thứ hai là bài chờ, cắm cây thứ ba là bài tới”. Trong trò chơi Bài chòi thì anh/chị Hiệu đóng vai vô cùng quan trọng, đó là người hô, hát có chất giọng tốt, có tài ứng khẩu lanh lợi, thuộc nhiều câu ca dao - tục ngữ, có khả năng kiến tại, biến hóa cuộc chơi trở nên vui nhộn, hoạt náo, lôi cuốn người chơi.

Chơi Bài chòi ngày Tết là thú vui trong những ngày đón xuân còn có ý nghĩa thử vận may đầu năm. “Bài chòi là trò chơi dân gian thường được diễn ra vào mùa xuân, người ta đến xem ngoài mục đích tiêu khiển vui chơi trong ba ngày Tết, còn có mục đích đến nghe anh Hiệu thuật chuyện đời để suy ngẫm, lại có mạch lạc đi qua những tính khí khác nhau của những con người mà anh Hiệu tự cảm biến”. Câu hô trò chơi Bài chòi gọi là “hô thai” hay còn gọi là “thai Bài chòi”- chữ thai có nghĩa là “đố”. Câu thai là câu đố mà theo đó “hô thai” là nói cho nhiều người nghe được câu thai, câu đố nào đó. Vì thế, “Câu thai thường được viết nôm na bằng thơ lục bát, có tính chất ẩn dụ hoặc dùng từ đồng âm gắn với tên con bài để người nghe có phần hồi hộp trong khi chờ đợi”. Phần hô thai của Bài chòi được lấy từ kho tàng văn học dân gian thể hiện tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình cảm lứa đôi, tinh thần cố kết cộng đồng… chứa đựng những bài học về đạo đức, kinh nghiệm ứng xử ở đời. Lời hô, hát mang tính bình dị, dí dỏm, tinh nghịch vốn dĩ tồn tại lâu nay trong đời sống của người dân lao động. “Ở Quảng Nam, nghệ thuật Bài chòi rất thịnh hành ở vùng tự do từ trong kháng chiến chống Pháp nhưng rõ nét nhất là từ trong kháng chiến chống Mỹ và phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn sau”. Trong kháng chiến chống Mỹ, Bài chòi phát triển mạnh, là bộ môn nghệ thuật chiếm vị trí thống sói trong nền văn nghệ giải phóng. Loại hình nghệ thuật này thâm nhập trong đời sống nhân dân, là món ăn tinh thần không thể thiếu của đại bộ phận quần chúng lao động. 

Về âm nhạc, hô, hát Bài chòi chủ yếu dựa trên bốn làn điệu: Xuân nữ, Cổ bản, Xàng xê và Hò Quảng. Về sau, các nghệ sĩ dân gian đã sáng tạo và biến tấu bởi nhiều làn điệu dân ca, điệu hò, điệu lý… đậm chất dân ca truyền thống như hò ba lý, hò khoan, hò chèo thuyền, vè Quảng, lô tô, lý tang tích, lý năm canh, hò giã vôi… đôi khi được anh/chị Hiệu biến tấu linh hoạt, ứng tác thông minh; như vận thêm ca dao, tục ngữ, hoặc tân nhạc… càng làm cho hội Bài chòi thêm hấp dẫn, vui nhộn. Từ các hội Bài chòi dân gian trải qua thời gian nghệ thuật Bài chòi đã từ “đất” lên “giàn”, từ sân khấu dân gian hình thành sân khấu dân ca kịch Bài chòi truyền thống, những làn điệu dân ca dần làm nên những tuồng tích như: “Thạch Sanh – Lý Thông”, “Lâm Sanh - Xuân Nương”, “Phạm Công – Cúc Hoa”, “Thoại Khanh – Châu Tuấn”… về sau được các Đoàn văn công giải phóng dàn dựng phục vụ quân và dân, cổ vũ thêm sức mạnh, động viên tinh thần chiến đấu chống giặc cứu nước, tiêu biểu là các tác phẩm: “Tiếng sấm Tây Nguyên”, “Một mạng người”, “Trước giờ xuất kích”, “Ba cùng”, “Đường phố dậy lửa”… tình tiết của các vở kịch được chuyển thể bằng những làn điệu dân ca Bài chòi. Cùng với đó là những độc tấu dân ca Bài chòi như: “Quảng Nam tung cánh chim bằng” (tác giả Hải Liên), “Gửi lòng con đến cùng cha”, “Dòng máu Bác Hồ” (tác giả Thu Bồn)…

Nghệ thuật Bài chòi Quảng Nam mang sắc thái riêng, độc đáo với những làn điệu dân ca, lời ca mang phương ngữ địa phương như “mô, tê, răng, rứa…”. Chính vì tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn nên các hội Bài chòi dân gian luôn thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Điều thú vị của trò chơi Bài chòi là nơi trổ tài, vừa là nơi biểu diễn, hò hát, đối đáp, được giao lưu, gặp gỡ tâm tình… Ở Quảng Nam những năm qua, Bài chòi còn trở thành phương tiện nghệ thuật chuyển tải các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, hôn nhân gia đình, phòng chống bạo lực gia đình… đến các tầng lớp nhân dân một cách thiết thực, hiệu quả. Như vậy, từ hình thức sinh hoạt giải trí trong cộng đồng làng xã, Bài chòi còn có môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật. Đây là nơi bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và giá trị văn hóa vùng miền. Các thành tố như: thơ ca, hò vè, ca dao, tục ngữ… được chuyển tải một cách sinh động tạo sức hấp dẫn đối với công chúng trở thành sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thiết yếu trong đời sống văn hóa làng, xã. 

Ngày nay, nghệ thuật Bài chòi vẫn giữ được nét đặc sắc riêng có của loại hình diễn xướng dân gian xuất phát từ trong lao động, từ âm nhạc, ca hô (hô, hát) đến nghệ thuật trình diễn Bài chòi. Điều này được minh chứng rất rõ qua nghệ thuật biểu diễn của các truyền nhân và nghệ nhân, cách diễn tấu của nhạc công Bài chòi trên khắp vùng đất Quảng Nam. Nghệ thuật Bài chòi có sức sống bền bĩ chính là nhờ sự đóng góp rất lớn của các thế hệ nghệ nhân truyền nghề xứ Quảng; họ là những anh/ chị Hiệu đam mê, say nghề am hiểu nghệ thuật Bài chòi góp phần rất lớn trong việc lan tỏa giá trị độc đáo của loại hình nghệ thuật này. Chính nhờ lực lượng nghệ sĩ “chân đất” này mà nghệ thuật Bài chòi đã lưu truyền qua bao thế hệ.

II. ĐỘI NGŨ NGHỆ NHÂN VỚI CÔNG TÁC TRUYỀN DẠY NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI Ở QUẢNG NAM

2.1. Đội ngũ truyền nhân và nghệ nhân Bài chòi ở Quảng Nam

          Ở Quảng Nam lâu nay có một đội ngũ truyền nhân và nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật Bài chòi ở cơ sở khá đông đảo. Ngay từ sau ngày đất nước thống nhất, một số địa phương trong tỉnh đã củng cố phong trào, nuôi dưỡng nghệ thuật dân ca, hô, hát Bài chòi. Từ tháng 3.1983, ngay sau khi Trung tâm Văn hóa & Thể thao thị xã Hội An được thành lập, những nghệ lớn tuổi của thị xã Hội An đã đứng ra tổ chức gầy dựng phong trào hô, hát Bài chòi. Để tiếp sức cho việc làm này, những người có trách nhiệm đã mời nghệ nhân về truyền dạy, nuôi dưỡng phong trào. Người được mời là ông Hải Nam – Trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Duy Xuyên và cô Hường (từ Thành phố Hồ Chí Minh) về Hội An dạy bài bản nghệ thuật Bài chòi. Mỗi lớp tổ chức học tập trong thời gian một tháng. Từ các lớp tập huấn, bồi dưỡng các nghệ nhân, diễn viên lớn tuổi được tiếp thêm sức mạnh và họ đã dốc lòng nuôi dưỡng nghệ thuật hô, hát Bài chòi, tiêu biểu như: ông Trần Sung, Võ Thới, Diệp Văn Thưởng, bà Huỳnh Thị Kiểm, Phạm Thị Thạnh, Nguyễn Thị Nữ, Võ Thị Hóa… (thuộc Đội Thông tin Lưu động thị xã Hội An). Họ thường xuyên đứng ra tổ chức các hội Bài chòi dân gian nhưng đời sống còn nhiều khó khăn nên rất ít người tham gia. Mặc dù vậy, những người tâm huyết với Bài chòi vẫn gìn giữ trao truyền, giữ lửa qua các thế hệ.

      Tại các xã, phường, Phòng Văn hóa – Thông tin, Trung tâm Văn hóa – Thể thao các huyện, thị xã, thành phố hình thành lớp nghệ nhân đa tài, vừa sáng tác, dàn dựng vừa truyền dạy cho lực lượng diễn viên các Đội Thông tin Lưu động tiêu biểu như: Phạm Phú Sương, Xuân Giá (đã mất), Lương Đáng (Hội An), Lê Trung Thùy (Duy Xuyên), Nguyễn Hải Triều (đã mất) Đại Lộc, Chu Nhật Linh (Điện Bàn), Quang Tự (Thăng Bình), Thế Lữ (Tam Kỳ), Lý Như Sanh (Núi Thành)… Lớp nghệ nhân như Lê Trung Thùy (Duy Xuyên), Nguyễn Hải Triều (Phòng Văn hóa và Thông tin Đại Lộc)… vừa có năng lực viết lời, vừa dàn dựng, vừa bồi dưỡng, tập luyện cho đội ngũ diễn viên… tham gia hội thi liên hoan cấp tỉnh, khu vực, toàn quốc. Họ cũng thường được các hội, ngành đoàn thể trong tỉnh mời dàn dựng chương trình tham gia liên hoan, hội thi. Ngoài ra, các nghệ nhân còn được mời truyền dạy cho thành viên các Câu lạc bộ dân ca Bài chòi tại các xã, phường, thị trấn, giáo viên thanh nhạc và học sinh các trường Tiểu học và THCS.

           Nghệ nhân Lê Trung Thùy vừa nhà viết kịch bản không chuyên, vừa là người thầy của lực lượng diễn viên quần chúng tại các Đội Thông tin Lưu động ở xã, phường, thị trấn, các cơ quan ban ngành các huyện, thị xã, thành phố. Ông đã viết hơn 300 kịch bản dân ca Bài chòi gồm tiểu phẩm dân ca kịch, tiểu phẩm ngắn chuyển thể dân ca Bài chòi, sáng tác lời mới cho dân ca Bài chòi. Ông sáng tác 30 quân bài qua các Lời thai pho văn (gồm Ông ầm, Nhất gối, Bánh Hai, Ba Bụng, Tứ tượng, Ngũ nón, Sáu tiền, Bảy liễu, Tám tiền, Chín cu). Lời thai pho vạn (gồm Bạch huê, Nhứt trò, Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ cẳng, Ngũ trưa, Lục Trạng, Thất vung, Bát bồng, Cửu chùa). Lời thai pho sách (gồm Thái tử, Nhất nọc, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ xách, Ngũ dụm, Sáu bường, Bảy sưa, Đỏ mỏ). Ông luôn dành tình yêu cho dân ca Bài chòi, khát khao gìn giữ vốn quý văn hóa văn nghệ cho thế hệ mai sau. Bên cạnh việc gìn giữ, công việc truyền nghề làm sống lại giá trị nghệ thuật của dân ca Bài chòi trước nguy cơ mai một cũng được ông đặc biệt quan tâm.

       Nghệ nhân Nguyễn Đáng có nghệ danh là Lương Đáng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú năm 2019. Ông từng là cộng tác viên của Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Hội An từ năm 1985-1993. Hơn 50 năm trải nghiệm với Bài chòi, ông là người góp phần quan trọng trong việc khôi phục nghệ thuật hô, hát Bài chòi ở Hội An. Từ những năm 80 của thế kỷ 20, bản thân ông vừa hô, hát - là anh Hiệu chính trong các hội Bài chòi dân gian ở Hội An phục vụ nhân dân vui chơi trong dịp Tết. Về sau Lương Đáng liên tục tham gia các chương trình Fastival di sản Quảng Nam. Bên cạnh đó, ông cũng được Trung tâm Văn hóa &Thể thao Hội An chọn làm Hiệu nam chính trong các hội Bài chòi Đêm rằm phố cổ từ năm 1999. Ông tham gia biểu diễn Bài chòi phục vụ người dân và du khách tại Bồn Binh An Hội, các chương trình quảng bá văn hóa - du lịch của Hội An với các tỉnh, thành phố trong cả nước, và nước ngoài. Và cũng từ đây, Lương Đáng bắt đầu nghiên cứu, sưu tầm, ứng tác. Ông sáng tác thêm những câu hô thai mới, tham gia truyền dạy cho thế hệ trẻ, đào tạo một số hạt nhân ở cơ sở để có đủ nhân lực phục vụ cho du lịch phố cổ. “Là người có năng lực kiến tại, nắm vững tri thức về các làn điệu dân ca Bài, nghệ thuật Tuồng và tân nhạc, nhờ có kỹ năng ứng tác giỏi trong hô hát mà các hội Bài chòi dân gian ở Hội An có anh Hiệu Lương Đáng dẫn dắt thì hội Bài chòi luôn hoạt náo, đầy ắp tiếng cười. Điều đặc biệt ở Lương Đáng là tri thức về nghệ thuật trình diễn, cách tổ chức các hội Bài chòi dân gian, kỹ năng kết hợp ứng dụng các loại hình nghệ thuật hiện đại và truyền thống vào trong diễn xuất. Lương Đáng rất tài tình trong việc đưa tân nhạc vào trong các làn điệu dân ca Bài chòi, sự chuyển hướng bất ngờ ấy làm người chơi vô cùng thích thú” – ông Võ Phùng – Nguyên Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thể thao thành phố Hội An nhận định. Trong các hội Bài chòi dân gian ở Hội An, ông đã tận tình hưởng dẫn người chơi nhất là người trẻ và du khách nước ngoài. 

         Cùng với Hiệu nam Lương Đáng, Hiệu nữ chính Nghệ nhân ưu tú Phùng Ngọc Huệ - nguyên là diễn viên của Đội Thông tin Lưu động thuộc Trung tâm Văn hóa- Thể thao thành phố Hội An, sự góp mặt của hai nghệ nhân này trong các hội Bài chòi Đêm rằm phố vào tối 14 âm lịch hằng tháng luôn thu hút đông đảo người dân và du khách tham quan tham gia trò chơi Bài chòi. Từ năm 2004, Trung tâm Văn hóa – Thể thao phối hợp với Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố Hội An đưa dân ca vào học đường, dân ca trở thành môn học chính khóa, chị đã trực tiếp đứng lớp trao truyền nghệ thuật Bài chòi cho học sinh bậc THCS. Từ năm 2011, Trung tâm Văn hóa – Thể thao Hội An mở lớp học hát dân ca trong Khu phố cổ, chị phụ trách lớp dạy hát dân ca cho học sinh và du khách tại Chùa Cầu. Là lớp nghệ nhân đi trước, chị đã tâm huyết truyền dạy nghề cho các diễn viên như: Lệ Nga, Dương Quý, Thu Sang, Kim Anh, Thu Sang, Thu Ly… Hiện nay lực lượng trẻ, kế cận đã thay thế chị đảm đương việc truyền dạy dân ca Bài chòi cho thế hệ trẻ. Từ năm 2021, NNƯT Phùng Ngọc Huệ luôn được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam mời tham gia các lớp truyền dạy “thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi” cho học viên các Câu lạc bộ/ Đội/ Nhóm Bài chòi các huyện, thị xã, thành phố, lực lượng giáo viên thanh nhạc và học sinh các trường Mầm non, Tiểu học, THCS và TH.

          Lớp nghệ nhân trẻ hiện như: Thu Hương, Nguyễn Văn Quý, Lệ Nga, Kim Anh, Hạnh Hoa, Minh Nhanh, Thu Sang, Thu Ly… là những người trẻ, tài năng, có chất giọng và khá am hiểu nghệ thuật Bài chòi, có kỹ năng diễn xuất tốt và đầy sức sáng tạo. Công việc chính của họ là biểu diễn phục vụ người dân và du khách tham quan 3 suất/ ngày tại Nhà biểu diễn Nghệ thuật cổ truyền Hội An (trong các khung giờ 10h15, 15h15, 16h15 hằng ngày) và 19h hằng đêm tại Bồn Binh Hội An. Họ đã trực tiếp dạy hát dân ca cho học sinh và du khách tại Chùa Cầu. Từ năm 2021, nghệ nhân Nguyễn Văn Quý, Lê Thị Thu Sang đã được Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Quảng Nam mời tham gia công tác truyền dạy nghệ thuật Bài chòi cho học viên tại các Câu lạc bộ/ Đội/ Nhóm Bài chòi, giáo viên thanh nhạc và học sinh các trường Tiểu học, THCS trên địa bàn tỉnh. Riêng nghệ nhân Nguyễn Văn Quý gắn với sân khấu Bài chòi từ năm 2003 đến nay, không chỉ tham gia biểu diễn phục vụ du khách và người dân đến tham quan phố cổ Hội An, anh còn truyền dạy nghệ thuật Bài chòi cho học sinh các trường Tiểu học, THCS ở thành phố Hội An, dạy hát dân ca cho thiếu nhi và du khách tại Chùa Cầu. Những năm gần đây, anh còn được các ngành, hội, đoàn thể, các Câu lạc bộ tại các xã, phường và các trường học mời dàn dựng chương trình tham gia hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật dân ca Bài chòi… Nghệ nhân Nguyễn Văn Quý đã góp phần rất lớn trong việc giới thiệu, quảng bá nghệ thuật Bài chòi ra các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài. 

            Bên cạnh lực lượng nghệ nhân có nghề, có môi trường thuận lợi để trao truyền nghệ thuật Bài chòi thì tại một số địa khác trong tỉnh vẫn còn một lực lượng truyền nhân đang âm thầm truyền nghề. Họ trưởng thành từ phong trào nghệ thuật quần chúng ở cơ sở, từ các Đội Thông tin Lưu động của những năm 80. Tiêu biểu như nghệ nhân Phạm Thanh Tùng - CLB Bài chòi xã Thu Bồn là người có năng lực viết lời, có khả năng truyền dạy. Ông thường xuyên được các địa phương như: Phú Ninh, Hiệp Đức, Quế Sơn, Duy Xuyên… mời dàn dựng chương trình tham gia liên hoan, hội thi. Ông cũng rất tâm huyết trong việc tập luyện cho các thành viên CLB Bài chòi xã Duy Hòa nay là CLB Bài chòi xã Thu Bồn quê ông. Tại các xã, phường, thị trấn lâu nay cũng hình thành đội ngũ nghệ nhân am hiểu nghệ thuật Bài chòi như Lê Thị Tám, Nguyễn Thị Tuyết Hoa (Trung tâm Văn hóa – Thể thao Duy Xuyên). Trịnh Tám (CLB Bài chòi xã Vu Gia). Trịnh Ký Đức, Trịnh Ký Hiệp (CLB Bài chòi xã Bình Lâm). Nguyễn Đức Xa, Trần Văn Lộc, Lê Xăng, Bùi Thị Thanh Tuyền (CLB Bài chòi xã Thu Bồn). Trương Minh Hạnh (CLB Bài chòi phường Bàn Thạch). Đỗ Đức Lai, Lê Thị Phương, Đỗ Xuân Cúc (CLB Bài chòi xã Tây Hồ). Lý Như Sanh, Kim Anh, Thanh Thảo, Như Quang (CLB Bài chòi xã Núi Thành). Thu Thôi (CLB Bài chòi xã Thạnh Bình),… Đây là những anh/ chị Hiệu có chất giọng hô, hát tốt, có năng lực viết lời, có khả năng dẫn dắt học sinh và những người có sở thích tập luyện bộ môn nghệ thuật này.

          Ngoài ra, Đoàn Ca kịch Quảng Nam cũng có lớp nghệ sĩ tích cực tham gia công tác truyền dạy nghệ thuật Bài chòi, tập các trích đoạn sân khấu chuyển thể dân ca Bài chòi như: NSND Từ Minh Hiệp, NSƯT Trần Ngọc Thủy, NSƯT Hải Yến, NSƯT Huỳnh Quang Việt, các nghệ sỹ như: Võ Thìn, Thu Hương cùng với đội ngũ nhạc công chuyên nghiệp như: Quốc Hộ, Hoàng Anh Kiệt, Nguyễn Tình (Đoàn Ca kịch Quảng Nam). Dương Tấn Sanh, Nguyễn Tiến, Phan Văn Dưỡng, Nguyễn Quang Phong, Trần Thanh Tuấn, Trần Nguyên Khánh, Nguyễn Văn Tuấn… (Trung tâm Bảo tồn Di sản Thế giới Hội An).

2.2. Công tác truyền dạy nghệ thuật Bài chòi ở các địa phương trong tỉnh

           Dẫn đầu trong phong trào phục hồi và nuôi dưỡng nghệ thuật Bài chòi là Thị xã Hội An. Kể từ tháng 3.1983, khi Nhà văn hóa thị xã Hội An được thành lập, những người có trách nhiệm đã mở lớp hát dân ca. Từ năm 2000, Trung tâm Văn hóa &Thể thao Hội An mở các lớp nhạc cụ dân tộc, dân ca Bài chòi bồi dưỡng thêm kiến thức, kỹ năng trình diễn cho lực lượng diễn viên và nhạc công nhằm gây dựng phong trào văn hóa văn nghệ ở cơ sở. Từ năm 2004, Trung tâm Trung tâm Văn hóa &Thể thao Hội An phối hợp với Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố đưa dân ca, Bài chòi vào trường học. Mỗi năm học tổ chức dạy hát dân ca theo dạng cuốn chiếu cho 2 trường THCS vào thứ 2 hàng tuần. Từ năm 2011, Trung tâm Văn hóa – Thể thao Hội An phối hợp với Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố (có văn bản ký kết) mở lớp học hát dân ca Bài chòi hằng đêm trong Khu phố cổ cho học sinh hai trường THCS nội thị: Trường Nguyễn Duy Hiệu và Trường Kim Đồng. Hằng đêm tại Chùa Cầu có từ 20-30 em học sinh đến học hát dân ca. Hiện nay, lớp dạy hát dân ca tại Chùa Cầu cho học sinh và du khách vẫn duy trì hằng đêm vào khung giờ 19h. Sau khi tiếp quản một phần chức năng của Trung Tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thanh - Truyền hình thành phố Hội An, Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An đã cử nghệ nhân truyền dạy các lớp học dân ca Bài chòi tại Trường THCS Nguyễn Du (phường Hội An đông) vào sáng thứ 2, Trường TH-THCS Trần Quốc Toản (phường Hội An) vào sáng thứ 5. Giáo viên hướng dẫn gồm: Nghệ nhân Nguyễn Văn Quý, Lệ Nga, Thu Hương, Kim Anh, Minh Nhanh, Hạnh Hoa, Thu Sang, Thu Ly… Sau nhiều năm tổ chức, hai hoạt động trên đã có hơn 20.000 lượt học sinh và du khách tham gia học hát dân ca. 

           Năm 2017-2018, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An đã phối hợp với Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố tổ chức biên soạn và giảng dạy bộ tài liệu “Giáo dục di sản học đường” dành cho học sinh bậc Tiểu học. Bên cạnh việc học, các em học sinh còn được tham quan tại các điểm di tích, bảo tàng, không gian tổ chức các hội Bài chòi dân gian, xem phim giới thiệu về trò chơi Bài chòi, gặp gỡ anh/ chị Hiệu hô, hát Bài chòi. Ngoài ra, Trung tâm còn tổ chức các lớp tập huấn nhằm giúp giáo viên nâng cao trình độ hiểu biết, cảm thụ về di sản, trong đó có di sản Bài chòi. 

           Tại huyện Duy Xuyên cũng có những cách làm hay để bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi. Năm 2018, UBND xã Duy Tân đã phối hợp với Trung tâm Văn hóa & Thể thao huyện Duy Xuyên tổ chức tập huấn Bài chòi cho các em học sinh Trường THCS Lê Quý Đôn. Ngành Văn hóa huyện Duy Xuyên đã phối hợp với Phòng Giáo dục - Đào tạo đưa nghệ thuật Bài chòi vào truyền dạy trong trường học; tổ chức liên hoan “Em yêu tiếng hát dân ca”… Các hoạt động này góp phần đưa nghệ thuật Bài chòi lan tỏa trong thế hệ trẻ. 

          Tại thành phố Tam Kỳ, CLB Bài chòi xã Tam Thăng luôn đi đầu trong việc khôi phục nghệ thuật Bài chòi. Ông Trương Minh Hạnh – Chủ nhiệm CLB là người rất tâm huyết với phong trào; với sự hỗ trợ của chính quyền, ông đã tập hợp những người có năng khiếu thành lập Câu lạc bộ Bài chòi, mời các nghệ sỹ, nhạc công của Đoàn Ca kịch Quảng Nam truyền thụ kiến thức cơ bản, kỹ năng hô, hát các làn điệu, sưu tầm các câu hô thai và tổ chức tập luyện. Nhờ vậy, CLB Bài chòi xã Tam Thăng thường xuyên tổ chức biểu diễn các hội Bài chòi phục vụ nhân dân vui xuân, đón Tết, biểu diễn tại di tích đình làng Thạch Tân khi có nhu cầu, biểu diễn tại lễ hội Hoa sưa – Vườn Cừa, Lễ hội Tam Kỳ mùa biển gọi được tổ chức hàng năm, biểu diễn tại Quảng Trường 24/3 trong dịp Tết… Tại 16 xã, phường của thành phố Tam Kỳ đã thành lập các CLB Bài chòi với khoảng 150 thành viên, CLB Bài chòi cấp thành phố với 9 thành viên. Phòng Văn hóa và Thông tin đã tham mưu UBND thành phố Tam Kỳ ban hành Kế hoạch Bảo tồn phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn thành phố giai đoạn 2019-2025. Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Truyền thông thành phố thường xuyên phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tập huấn bồi dưỡng kỹ năng thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi cho các CLB tại các xã, phường, hỗ trợ thêm về mua sắm trang thiết bị, đạo cụ, trang phục… Một số trường học trên địa bàn thành phố cũng đã thành lập CLB Bài chòi, tổ chức sinh hoạt tập luyện, tham gia hội thi, hội diễn do Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố tổ chức.

           Tại các huyện, thị xã như Thăng Bình, Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Quế Sơn, Hiệp Đức,… các ngành liên quan và chính quyền địa phương đã quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Bài chòi như ban hành kế hoạch, ra mắt CLB, tổ chức bồi dưỡng tập huấn, tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn… Thăng Bình là địa phương đặc biệt quan tâm đến công tác này, hằng năm Phòng Văn hóa và Thông tin huyện đã xây dựng kế hoạch tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho hàng trăm người đang sinh hoạt tại các CLB dân ca Bài chòi, giáo viên thanh nhạc và học sinh ở các cấp học… Chương trình Gameshow “Quê mình xứ Quảng” của Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Nam được duy trì thường xuyên - là “mảnh đất tốt” để nghệ thuật Bài chòi phát triển. Đây cũng là cơ hội để đội ngũ nghệ nhân Bài chòi sáng tác nâng cao tay nghề, thành viên các Câu lạc bộ có “đất diễn” để thỏa mãn niềm đam mê với loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. 

  1. . Công tác truyền dạy dân ca Bài chòi trên địa bàn tỉnh, chú trọng đưa dân ca Bài chòi vào trong trường học

          Từ năm 2006, Cục Nghệ thuật Biểu diễn (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với các tỉnh, thành phố trong cả nước thực hiện Dự án Sâu khấu học đường thông qua việc triển khai dạy thí điểm Nghệ thuật Tuồng và Dân ca Bài chòi dạy cho học sinh khối Tiểu học và THCS trên địa bàn các huyện: Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Đại Lộc, Hội An, Tam Kỳ, Thăng Bình, Phú Ninh (Quảng Nam). Giáo viên hướng dẫn là các nghệ sĩ, nhạc công của Đoàn Ca kịch Quảng Nam, nội dung chính là dạy hát các làn điệu dân ca và tập một số trích đoạn như: “Trưng Vương đề cờ”, “Thoại Khanh – Châu Tuấn”, “Ông xã – Bà đội”, “Thủ Thiệm ở Chợ Được”… Các tiết học được các nghệ sỹ của Đoàn Ca kịch Quảng Nam truyền thụ trực tiếp, các làn điệu dân ca, trích đoạn sân khấu được các em học sinh nắm bắt nhanh, hát hay, tập luyện thuần thục. Thông qua chương trình này đã phát hiện nhiều hạt nhân văn nghệ trong trường học bổ sung cho các Câu lạc bộ Bài chòi ở cơ sở, đồng thời khơi dậy sự đam mê yêu thích việc hát dân ca, làm quen với sân khấu dân ca kịch của học sinh ở các cấp học. Dự án sân khấu học đường của Cục Nghệ thuật Biểu diễn (thuộc Bộ Văn hóa – Thông tin) góp phần giáo dục thẩm mỹ, lan tỏa, nâng cao nhận thức về tình yêu đối nghệ thuật truyền thống trong học sinh. Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã tổ chức tập huấn Đàn và hát dân ca cho 59 xã xây dựng nông thôn mới. Ngành Văn hóa cũng đã hỗ trợ các địa phương trong việc bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian như hát Tuồng, hát Sắc bùa, hô, hát Bài chòi, khuyến kích các Câu lạc bộ Bài chòi tổ chức biểu diễn trong các Lễ hội truyền thống, Lễ hội làng nghề như: Lễ hội Bà Thu Bồn, Lễ hội Bà Phường Chào, Lễ hội Rước Cộ Chợ Được; các lễ hội làng nghề được tổ chức vào dịp đầu xuân ở phố cổ Hội An: Lễ giỗ Tổ nghề gốm Thanh Hà, Lễ hội giỗ Tổ nghề Mộc làng Mộc Kim Bồng, các sự kiện văn hóa – du lịch…

            Sau khi nghệ thuật Bài chòi được UNESCO vinh danh năm 2017, thực hiện  Chương trình hành động quốc gia về bảo vệ Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam của Bộ VH, TT&DL ngành Văn hóa đã tham mưu UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Kế hoạch 6202/KH-UBND ngày 30/8/2018 về“Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019-2025”. Ngành Văn hóa đã xây dựng kế hoạch tập huấn hằng năm, mời các nghệ nhân, nghệ sỹ, nhạc công của Đoàn ca kịch Quảng Nam, Trung tâm Văn hóa – Thể thao thành phố Hội An phối hợp tổ chức 18 lớp tập huấn “Truyền dạy, bồi dưỡng kỹ năng thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi”; đã có hơn 800 học viên là thành viên các Câu lạc bộ/ Đội/ Nhóm Bài chòi của các xã, phường, thị trấn thuộc 18 huyện, thị xã, thành phố, và hơn 400 giáo viên, học sinh, công tác, học tập tại các trường Mẫu giáo, Tiểu học, THCS và TH trong toàn tỉnh tham gia học tập. Các lớp tập huấn đã góp phần trang bị những kiến thức về thực hành các làn điệu dân ca và hô hát Bài chòi, cách tổ chức các hội Bài chòi dân gian, nâng cao kỹ năng biểu diễn các làn điệu dân ca, kỹ năng sử dụng các loại nhạc cụ như: Đàn ghita phím lõm, đàn nhị, đàn bầu, đàn tranh và trống... Tại đây, người học có điều kiện trao đổi, tương tác với người dạy làm phong phú hơn về kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc thực hành nghệ thuật Bài chòi nhằm nhân rộng và phát triển mạnh mẽ ra nhiều địa phương khác, khơi dậy sự yêu thích nghệ thuật Bài chòi trong nhân dân, đặc biệt là lực lượng giáo viên và học sinh. Được tham gia các lớp tập huấn, lực lượng giáo viên thanh nhạc và học sinh các trường được trang bị cơ bản về kỹ năng thực hành các làn điệu, kỹ thuật luyến láy, cách vận dụng thành tố văn học dân gian như: ca dao, tục ngữ, hò vè trong hô, hát Bài chòi. Các nghệ nhân, nghệ sỹ, nhạc công đã dành thời gian, kinh nghiệm truyền đạt cho học viên, giúp họ hoàn thành khóa học. Với sự hướng dẫn tận tình và đầy trách nhiệm, các học viên đã tiếp thu và thực hành tốt yêu cầu bài giảng, một số học viên bộc lộ năng khiếu qua giọng hát, nắm vững kỹ thuật của các làn điệu dân ca, cách làm chủ sân khấu Bài chòi; các nghệ nhân, nghệ sỹ truyền dạy còn xây dựng các tiết mục báo cáo đầy sức thuyết phục. Nhờ vậy, nghệ thuật Bài chòi từng bước được thẩm thấu, lan tỏa trong gia đình, xóm làng, trường học,… Nhiều em học sinh đã trở thành hạt nhân trong các cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn, nhiều nhân tố trẻ, có năng lực được bổ sung cho CLB Bài chòi ở các địa phương.   

             2.4. Vai trò và tầm quan trọng của Nghị quyết 08/2024/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam với công tác bảo tồn và phát huy đội ngũ nghệ nhân Bài chòi ở Quảng Nam.

          Những năm qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến hành điều tra, khảo sát, kiểm kê, đánh giá nhận diện di sản. Toàn tỉnh có 82 CLB dân ca Bài chòi có quyết định thành lập, 80 CLB Bài chòi của 80 trường Tiểu học, THCS và TH. Trên cơ sở kết quả kiểm kê, ngành Văn hóa đã tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết 08/2024/NQ-HĐND ngày 23/01/2024 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về “Quy định nội dung, mức hỗ trợ bảo tồn, phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2024-2030”. Kể từ khi Nghị quyết 08 ra đời, phong trào hô, hát Bài chòi trên địa bàn tỉnh như được tiếp thêm sức mạnh. Nhiều Câu lạc bộ dân ca Bài chòi tại các địa phương nhanh chóng được thành lập, các Câu lạc bộ lâu nay hoạt động mạnh, tăng cường tổ chức biểu diễn, lưu diễn phục vụ nhân dân. Các huyện, thị xã, thành phố cũng đã quan tâm xây dựng Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản nghệ thuật Bài chòi… Bên cạnh sự hỗ trợ của Đề án, các Câu lạc bộ mua sắm các trang thiết bị như: Âm thanh, nhạc cụ, đạo cụ, trang phục tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân, tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn khá rầm rộ. Các Câu lạc bộ chưa thành lập dưới sự hướng dẫn của các địa phương… đã nhanh chóng tổ chức lễ ra mắt. Ngành Văn hóa cũng đã xuất bản các ấn phẩm sách như: “Di sản nghệ thuật Bài chòi xứ Quảng”, “Những câu hô thai Bài chòi xứ Quảng”, “Kịch bản dân ca kịch Bài chòi Khu V” (tập 1,2), Xây dựng bộ tài liệu tập huấn “Thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi”… phát hành, phổ biến đến các Câu lạc bộ/ Đội/ Nhóm Bài chòi, đến Thư viện các trường học, giáo viên và học sinh. Bổ sung nguồn tư liệu quý nghiên cứu di sản nghệ thuật Bài chòi, phục vụ công tác nghiên cứu, sưu tầm, truyền dạy nghệ thuật Bài chòi. Nghị quyết 08 tạo cơ chế hỗ trợ, phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài bài, Quảng Nam đã có những kế hoạch cụ thể, trong đó đặc biệt chú trọng việc truyền dạy di sản này trong trường học. Theo đó mục tiêu bảo tồn, phát huy di sản nghệ thuật Bài chòi, chú trọng hỗ trợ truyền dạy thí điểm nghệ thuật Bài chòi tại các trường học, đưa Bài chòi vào hoạt động ngoại khóa, tổ chức liên hoan, ngày hội, giao lưu trong học sinh. 

Trong năm 2024, hỗ trợ truyền dạy thí điểm Bài chòi cho 80 CLB tại 80 trường Tiểu học và THCS là 20 triệu đồng; hỗ trợ 7 triệu đồng/CLB/ trường/ năm nhằm duy trì hoạt động cho 80 CLB Bài chòi từ năm 2025-2030; tăng số lượng học sinh tiếp cận, phổ biến, giáo dục di sản. Thực hiện kịch bản truyền thanh hô Bài chòi cho các trường học, bằng cách thu âm giọng hô hát, diễn viên thu âm theo từng cấp học để phù hợp với lứa tuổi học sinh được tiếp cận và tuyên truyền vào các khung giờ trước khi vào đầu buổi học và lúc tan học để học sinh, phụ huynh cùng được nghe. Theo đó, Đề án nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Bài chòi; Từ nâng cao quy mô, số lượng, chất lượng của các CLB/ Đội/ Nhóm Bài chòi góp phần tôn vinh những giá trị đặc sắc của nghệ thuật Bài chòi đến việc hỗ trợ cho các CLB tiếp tục giữ gìn, phổ biến, phát huy cho các thế hệ mai sau.

2.5. Một số hạn chế: 

Những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều Chương trình, Kế hoạch, Đề án… nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Bài chòi; các địa phương đã có nhiều cố gắng nỗ lực trong việc gìn giữ loại hình nghệ thuật này. Tuy nhiên, việc tìm kiếm nghệ nhân kế cận là câu chuyện dài và đầy gian nan vất vả. Lớp nghệ nhân ngày càng lớn tuổi, mất dần theo thời gian, lớp trẻ không mấy mặn mà với loại hình nghệ thuật truyền thống. Đội ngũ viết kịch bản và nhạc công đàn dân tộc ngày càng thưa vắng là vấn đề không dễ dàng đối với các địa phương hiện nay. Vì vậy, ngành Văn hóa và các địa phương cần có kế hoạch tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho lực lượng nghệ nhân kế cận để họ có cơ hội được trang bị kiến thức, kỹ năng viết câu hô thai, sáng tác kịch bản, kỹ thuật trình diễn, kỹ năng làm thẻ bài… của lớp nghệ nhân lớn tuổi. Và hy vọng việc làm này sẽ lấp đầy khoảng trống nghệ thuật Bài chòi trước nguy cơ mai một. 

          III.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN PHÁT HUY ĐỘI NGŨ NGHỆ NHÂN BÀI CHÒI XỨ QUẢNG

3.1. Nâng cao vai trò của lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương

           Nơi nào cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm đến công tác bảo tồn phát huy giá trị nghệ thuật Bài chòi thì nơi đó nghệ thuật Bài chòi “có đất sống”, đội ngũ nghệ nhân được phát huy tốt. Thực tiễn triển khai Nghị quyết 08 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam cho thấy rõ điều này. Ngay sau khi nghị quyết ban hành, các địa phương đã quan tâm củng cố, thành lập các Câu lạc bộ/ Đội/ Nhóm Bài chòi. Các Câu lạc bộ đã được các xã, phường hướng dẫn thủ tục mua sắm nhạc cụ, trang phục, đạo cụ…(theo hỗ trợ của Đề án mỗi CLB 60 triệu đồng mua sắm, 9 triệu đồng duy trì hoạt đồng/ 1 năm), tạo điều kiện cho các hoạt động tổ chức sinh hoạt, biểu diễn phục vụ nhân dân trong dịp Tết và các sự kiện văn hóa-du lịch, lễ hội… Vì vậy để ngày càng có nhiều địa phương gầy dựng, phát huy được nghệ thuật Bài chòi thì trước hết cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần có sự quan tâm lãnh đạo sâu sát, hiệu quả. Cụ thể là:

- Tại những xã phường đã có Câu lạc bộ/ Đội dân ca Bài chòi, cấp ủy Đảng, chính quyền cần tiếp tục theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của các đội, CLB này, động viên khích lệ tinh thần các nghệ nhân; hằng năm quan tâm hỗ trợ về kinh phí để hoạt động, sắm sửa trang phục, nhạc cụ khi cần; tạo điều kiện tổ chức biểu diễn trong các dịp lễ, Tết; giao nhiệm vụ (có hỗ trợ kinh phí) dùng nghệ thuật Bài chòi để truyên truyền đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, địa phương đến các tầng lớp nhân dân.

        -  Đồng thời quan tâm đến những địa phương chưa thành lập Câu lạc bộ Bài chòi, động viên, khích lệ tinh thần để những người có năng khiếu tập hợp thành lập Câu lạc bộ. Mời những nghệ nhân am hiểu nghệ thuật Bài chòi tổ chức các khóa tập huấn các CLB về kỹ năng hô, hát nghệ thuật Bài chòi, kỹ năng sử dụng các loại nhạc cụ… nhằm khơi dậy niềm đam yêu, sự yêu thích bộ môn nghệ thuật này.

3.2. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ, tôn vinh đối với nghệ nhân Bài chòi

      - Ngành Văn hóa các cấp cần tham mưu xây dựng cơ chế chính sách đối với các nghệ nhân đang nắm giữ và thực hành di sản. Đối việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể vai trò của các nghệ nhân là vô cùng quan trọng; cần có sự quan tâm tới họ vì đa phần trong số họ tuổi đời đã cao, sức khỏe giảm sút. Cần sưu tầm, ghi chép thu thập tư liệu từ các nghệ nhân lớn tuổi kho tàng các câu hô thai truyền thống tư liệu hóa, văn bản hóa để lưu giữ lâu dài. 

        -  Cần hỗ trợ nghệ nhân xây dựng hồ sơ xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trên lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể; tạo môi trường thuận lợi để họ có điều kiện, cơ hội thực hành và trao truyền nghề. Thực tế cho thấy từ năm 2019 đến nay, qua 4 lần xét, mới chỉ có 2 nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú. Từ đó đến nay, trong số 2 nghệ nhân nêu trên chưa có nghệ nhân nào được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân. Đối với các nghệ nhân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú ngoài việc mời họ tham gia truyền nghề, còn tạo điều kiện để họ được tham gia các sự kiện văn hóa – du lịch, các lễ hội lớn… để họ có cơ hội biểu diễn, trình diễn nhằm phát huy năng lực, sở trường hiện có. 

            3.3. Tạo môi trường thuận lợi cho nghệ nhân Bài chòi phát huy năng lực, sở trường

        - Ngành văn hóa các cấp định kỳ cần tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn Bài chòi ở các quy mô khác nhau: cấp địa phương, cấp tỉnh, cấp khu vực nhằm khuyến kích sự tranh tài giữa các nghệ nhân, các Câu lạc bộ nhằm tạo sân chơi, cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao kỹ năng trình diễn. Toàn tỉnh Quảng Nam (cũ) đã thành lập 80 CLB Bài chòi trong trường học, hiện nay thực hiện Đề án 08, Bài chòi được đưa vào truyền dạy cho học sinh ở cấp Tiểu học và THCS. Đây là cách làm hay sẽ tạo ra được lớp công chúng trẻ hiểu và yêu dân ca Bài chòi. Trong quá trình đưa vào truyền dạy di sản nghệ thuật Bài chòi, ngành Giáo dục cần lựa chọn, bồi dưỡng những em học sinh có năng khiếu, có triển vọng để đào tạo lớp nghệ nhân kế thừa trong tương lai. Chính các em là thế hệ gìn giữ di sản cho thế hệ mai sau. 

          3.4. Nâng cao vai trò chủ động, sáng tạo của đội ngũ nghệ nhân, bồi dưỡng lực lượng kế cận

         Ngành Văn hóa các cấp cần thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nhằm phát huy vai trò của của đội ngũ nghệ nhân. Động viên họ chủ động sáng tạo hơn nữa trong công tác truyền dạy, duy trì hoạt động của các CLB Bài chòi thực hành di sản nghệ thuật Bài chòi trong cộng đồng. Bởi chính lực lượng này mới giữ gìn và phát huy giá trị của nghệ thuật Bài chòi trước nguy cơ mai một. Hiện nay, tại các Trung tâm Văn hóa, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống, các Câu lạc bộ.., cần chú trọng trong việc hình thành một lớp nghệ nhân trẻ, đội ngũ kế cận về hô hát Bài chòi. Khuyến kích, tạo điều kiện cho những người có năng khiếu yêu thích Bài chòi được trau dồi kỹ năng phát triển năng khiếu và niềm đam mê.

  1. KẾT LUẬN:

    Có thể khẳng định rằng, việc UNESCO ghi danh nghệ thuật Bài chòi 9 tỉnh Trung Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là sự ghi nhận giá trị văn hóa đặc sắc và phong phú của nghệ thuật Bài chòi. Đồng thời cũng là sự tôn vinh thành quả bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của bao thế hệ người dân vùng duyên hải miền Trung nói chung, Quảng Nam nói riêng. Trong quá trình bảo tồn ấy có cả thành quả bảo tồn và phát huy đội ngũ truyền nhân và nghệ nhân Bài chòi. Hy vọng rằng trong tương lai, việc trao truyền di sản sẽ được phát huy mạnh mẽ hơn nữa giữa các thế nghệ truyền nhân và nghệ nhân Bài chòi xứ Quảng.  

Tài liệu tham khảo:

1/ Nghệ thuật Bài chòi Di sản quý của dân tộc – GS Hoàng Chương chủ biên – NXB Sân khấu năm 2014.

2/ Nghệ thuật Bài chòi dân gian Bình Định – Nguyễn An Pha – NXB Văn hóa Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh năm 2019.

3/ Di sản Bài chòi xứ Quảng – Sở VH,TT&DL Quảng Nam – NXB Đà Nẵng năm 2023.

4/ Nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới - Tài liệu hội thảo Quốc tế của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Sở VH, TT&DL tỉnh Bình Định, năm 2015.

 
VỀ BẾN SÔNG XƯA

VỀ BẾN SÔNG XƯA

VỀ BẾN SÔNG XƯA                                          Thơ: Lê Ngọc Nam

Chuyển thể dân ca: NSƯT Đỗ Linh

 

Đọc Thơ:        Có một dòng sông chảy qua đời tôi, chảy qua làng tôi

            Có một dòng sông chảy qua năm tháng

Làm nên quê tôi, tắm mát đời tôi! 

Thu Bồn ơi! Thu Bồn!

 

Lý vọng phu:        Chừ tôi về - về với bến sông xưa 

            Của tuổi thơ phơi nắng - đi tắm mưa một thời

            Sông bên lở bên bồi - chảy trong tôi từ bao năm tháng

            Sông quê mẹ dịu dàng - còn soi bóng con đò đưa

            Cánh cò chiều còn bay chớp trắng - giăng như lụa tơ vàng

            In mây gợn mơ màng - Chừ về bến sông xưa 

Bao nhiêu ký ức - là về quay về - là về quay về

 

Xuân nữ:         Quên sao được những giờ trốn học

Lũ trẻ chúng tôi ngụp lặn nô đùa

Chia hai phe làm giặc giả ăn thua

Rồi ném nhau từng mảnh vỏ dưa trái xoài

Khi gió nồm lên tung cánh diều bay

Cởi trần nằm trên cát lòng đầy ước mơ

Mơ được bay lên như cánh diều bay

Chao trên sông nước mà lòng say quê mình

 

Cổ bản:        Nhưng rồi giặc đến đốt làng tôi trơ trụi 

Lập bốt dồn dân bom đạn xới cày

Bao nhiêu cực khổ đắng cay

Trút lên từng mái nhà xiêu vẹo từng bầy trẻ thơ

Trực thăng tàu giặc nhởn nhơ

Xả xuống hàng tấn đạn phủ bờ làng tôi

Lênh láng trên sông máu đỏ ùn trôi

Dòng sông yên lặng trong tôi bây giờ

 

Xuân nữ:         Rồi theo bộ đội tôi đi làm liên lạc

Đêm đêm về lại với dòng sông

Tàu giặc bủa vây quần đảo trên không

Dòng sông cuộn sóng trào dâng căm thù

Quê hương khói lửa mịt mù

Bước chân liên lạc dạn dày trong tôi

Rồi sông ôm tôi chở che như tình mẹ

Rồi một ngày tôi biền biệt đi xa

Xốn xang nỗi nhớ quê nhà 

Nhớ Thuận Tình bến đình Cửa Đại xốn xang nao lòng

Mẹ già tựa cửa đợi trông

Thương con gian khổ quặn lòng đắng cay

Nhớ quê tôi tính từng ngày

Bao nhiêu năm tháng đã đỗi thay nhường nào 

Nay tôi về lại bến sông xưa

Đầu đã bạc tuổi thơ không còn nữa

Lũ bạn ngày xưa đứa còn đứa mất

Chuyện kể thâu đêm nước mắt đong đầy

Giờ đây trên bến sông này

Bên bồi bên lở như ngày năm xưa

Qua sông cũng chuyến đò đưa

Thu Bồn ơi! Thu Bồn còn đợi người xưa quay v

VỀ BẾN SÔNG XƯA                               Thơ: Lê Ngọc Nam - Chuyển thể dân ca: NSƯT Đỗ Linh

Đọc Thơ:    

Có một dòng sông chảy qua đời tôi, chảy qua làng tôi

Có một dòng sông chảy qua năm tháng

Làm nên quê tôi, tắm mát đời tôi! 

Thu Bồn ơi! Thu Bồn!

 

Lý vọng phu:    

Chừ tôi về - về với bến sông xưa 

Của tuổi thơ phơi nắng - đi tắm mưa một thời

Sông bên lở bên bồi - chảy trong tôi từ bao năm tháng

Sông quê mẹ dịu dàng - còn soi bóng con đò đưa

Cánh cò chiều còn bay chớp trắng - giăng như lụa tơ vàng

In mây gợn mơ màng - Chừ về bến sông xưa

Bao nhiêu ký ức - là về quay về - là về quay về

 

Xuân nữ:         

Quên sao được những giờ trốn học

Lũ trẻ chúng tôi ngụp lặn nô đùa

Chia hai phe làm giặc giả ăn thua

Rồi ném nhau từng mảnh vỏ dưa trái xoài

Khi gió nồm lên tung cánh diều bay

Cởi trần nằm trên cát lòng đầy ước mơ

Mơ được bay lên như cánh diều bay

Chao trên sông nước mà lòng say quê mình

 

Cổ bản:        

Nhưng rồi giặc đến đốt làng tôi trơ trụi 

Lập bốt dồn dân bom đạn xới cày

Bao nhiêu cực khổ đắng cay

Trút lên từng mái nhà xiêu vẹo từng bầy trẻ thơ

Trực thăng tàu giặc nhởn nhơ

Xả xuống hàng tấn đạn phủ bờ làng tôi

Lênh láng trên sông máu đỏ ùn trôi

Dòng sông yên lặng trong tôi bây giờ

Xuân nữ:         

Rồi theo bộ đội tôi đi làm liên lạc

Đêm đêm về lại với dòng sông

Tàu giặc bủa vây quần đảo trên không

Dòng sông cuộn sóng trào dâng căm thù

Quê hương khói lửa mịt mù

Bước chân liên lạc dạn dày trong tôi

Rồi sông ôm tôi chở che như tình mẹ

Rồi một ngày tôi biền biệt đi xa

Xốn xang nỗi nhớ quê nhà 

Nhớ Thuận Tình bến đình Cửa Đại xốn xang nao lòng

Mẹ già tựa cửa đợi trông

Thương con gian khổ quặn lòng đắng cay

Nhớ quê tôi tính từng ngày

Bao nhiêu năm tháng đã đỗi thay nhường nào 

Nay tôi về lại bến sông xưa

Đầu đã bạc tuổi thơ không còn nữa

Lũ bạn ngày xưa đứa còn đứa mất

Chuyện kể thâu đêm nước mắt đong đầy

Giờ đây trên bến sông này

Bên bồi bên lở như ngày năm xưa

Qua sông cũng chuyến đò đưa

Thu Bồn ơi! Thu Bồn còn đợi người xưa quay về.

 

Trung thu nhớ Bác

Trung thu nhớ Bác

Trung thu nhớ Bác

Lê Trung Thuỳ

Lý tang tít:         Gió mùa thu dịu êm mà man mác

(Ánh trăng vàng) 2  ngọt ngào khắp quê hương

Nhịp trống lân ầm vang khắp đường làng

Mừng trung thu chúng em rộn ràng ca hát

(Tiếng hát theo em vào trong giấc mơ hồng) 2 lần

 

Lối xuân nữ:     Trong mơ em gặp Bác Hồ

               Thương đàn cháu nhỏ Trung thu Bác… cho quà

Bác như một vị tiên già

Nụ cười ánh mắt bao la tình người

        Dưới trăng Bác cháu cùng vui

               Nhận quà cháu nhận cả lời Bác răng

                 Yêu tổ quốc, yêu đồng bào

                   Lao dộng học tập, nâng cao mỗi ngày

              Đoàn kết tốt, kỹ luật cao

                 Vệ sinh thật tốt lúc nào cũng nhớ ghi

                 Thật thà, khiêm tốn, vẹn nghì

                     Tinh thần dũng cảm cần phát huy kịp thời

 

Vè quảng:         Năm điều Bác dạy Bác ơi

                 Là hành trang con bước vào đời hôm nay

Mỉm cười Bác khẽ gật đầu

Chúc cho các cháu mai sau thành người

Để ra giúp nước giúp đời

Rạng danh đất Việt sáng ngời năm châu

 

Cổ bản:        Giật mình, tỉnh giấc chiêm bao

         Ngoài vườn trăng sáng soi vào sông thưa

Ngẩn ngơ như thể mới vừa

Đang vui bên Bác mới thưa cùng người

Nhìn trăng sáng rực đất trời

Ước sao cháu được một lần cùng trăng

 

Xàng xê:         Nhẹ nhàng trăng bước vào lăng

            Vầng trăng đất Quảng vầng trăng Ba Đình

Sáng trăng một chữ mà đinh ninh

Nguyện theo lời Bác giữ là gìn nước non

(Dù cho)2 sông cạn đá mòn

Tự do độc lập sắc son ghi lòng

 

Hò quảng:        Trung thu trăng sáng trời trong

Cháu như thấy Bác về cùng hôm nay

Nhẹ nhàng như cánh hạc bay

                Dìu bao thế hệ tương lai vào đời

                 Chúng con nguyện nhớ ơn Người

                      Cho con trọn vẹn đất trời quê hương

                      Nhớ ơn người cháu nguyện neo gương

                          Dựng xây đất nước thịnh cường vinh quang./.


 

TRỌN TÌNH ĐẤT MẸ

TRỌN TÌNH ĐẤT MẸ

TRỌN TÌNH ĐẤT MẸ

 

Thơ: Lê Ngọc Nam

Chuyển thể dân ca: NSUT Đỗ Linh

 

Ngâm thơ:

 

Nữ:   Mãnh đât quê tôi đượm thắm tình

Ca dao mộc mạc lọc từng câu

Nam: Đối nhân, chia sẻ như lòng mẹ

Trọng khách phương xa, trọng nghĩa đời

 

Vọng kim lang:

 

Nữ:    Ở phương xa thấy nhớ quê nhà

Nhớ con đò đầy chiều tan học tôi qua sông

Tiêng rao bán rong trên đường nào bắp ngọt, chuối chiên, khoai lang...

Nam: Mỗi chiều ánh vàng soi về ngõ phố

Bước chân rộn ràng, trường trống đã vang

Nữ:    Phố rêu khói lam xông mùi nồng nàn bánh ram vàng ươm

Nam: Bước ai gõ trên Chùa Cầu lòng càng nhớ quê nhiều hơn

Nữ:    Ngoài khơi sóng nước tung tăng, Hải Âu lươn lờ trên không

Nam: Buồm căng thuyền về nơi xa cá.. tôm... đầy... khoang

 

Xuân nữ:

 

Nữ:    Nhớ quê nỗi nhớ miên man

Nhớ vồng khoai, nhớ ngọn lang bùi

Hội An đất mẹ quê tôi

Dẫu đi xa mãi suốt đời không quên

Nam: Nhớ Kim Bồng thuyền về neo đậu

Đợi nồm lên vượt sóng trùng khơi

Dù cho vật đổi sao dời

Dòng sông vẫn giữ xanh ngời màu xanh

Nữ:    Sông là mẹ sống đời nhân hậu

Mẹ là sông luôn đùm bọc chở che

Dịu mát đi cái nắng trưa hè

Cho cây sai trái sum xuê đầy vườn

Nam: Dẫu còn nghèo nhưng vẫn trọn tình chung thuỷ

Tay chung tay xây dựng quê hương

Làng quê điện sáng khắp đường

Dòng người qua lại từ phương xa về

Nữ:     Đường trong xóm, lối trên đê

Lồng đèn xuôi ngược làng nghề quê tôi

Dưới trăng soi bóng lứa đôi

Thuận Tình giờ đã hai nơi chan hoà

N+N: Yêu sao câu hát dân ca

Hò khoan đối đáp trẻ già cùng vui


 

Hò Khoan:

 

N+N: À ơ...À ơ...hớ khoan hố hợi là hò khoan

Nam: À ơ...Sóng Cửa Đại vì đâu mà trắng xoá

(Bởi) đợi chờ ai mà sóng phải bạc đầu

Nữ:   À ơ (chứ) Phải chăng qua cuộc bể dâu

Long chung thuỷ (nên) sóng bạc đầu chờ mong

Khoan... hố... hợi.... là... hò... khoan

 

Hồ Quảng:

 

Nữ:    Hội An nay đã chuyển mình

Thập phương tấp nập nghĩa tình gần xa

Cẩm Châu, Trường Lệ ai qua

Nước về đồng lúa gió vờn tóc mây

Cẩm Nam sông nước bao la

Bắp tươi, Hến ngọt làm quà quê hương

Nam: Cẩm Thanh ơi! Mưa nắng gió sương

Qua bao đau khổ vững vàng niềm tin

Quê nghèo biết mấy gian nan

Mà rừng dừa nước vẫn hiên ngang giữa đất trời

Nữ:    Xoài xanh mía ngọt người ơi

Xu Suê bánh ít cả đời truyền nhau

Nhớ Cao Lầu bốc hơi nóng hổi

Có rau thơm lừng của Trà Quế  mang sang

N+N: Sóng Cù LaoTân Hiệp ngút ngàn

Yến Sào nổi tiếng chào sang xứ người

 

Xuân nữ:

 

Nam:    Tôi đi muôn vạn nẻo đường

Mà hồn tôi mãi vấn vương quê nhà

Hội An ở giữa tim tôi

Dù xa muôn dặm tình đời không phai

Ngóng quê lòng nhớ đong đầy

Trọn tình đất mẹ ngày mai...ngày mai ...con về. ./. 

 

TRĂNG NƯỚC HOÀI GIANG

TRĂNG NƯỚC HOÀI GIANG

TRĂNG NƯỚC HOÀI GIANG                    Phùng Sơn

 

Hò khoan:     À ơ … Trăng tự nghìn xưa đến rằm thì sáng tỏ

        Trăng về Phố cổ đêm mười bốn trăng thanh

        Hoài Giang trăng nước lung linh

        Phố xưa thêm vẻ hữu tình…nên thơ

 

ĐHLH:    -Trăng lưu luyến vương tình Phố Hội

        Nghìn hoa đăng rực rỡ muôn màu

        Tiếng đàn nhịp khách bay cao

        Ru ta lạc bước lạc vào (2 lần) cõi mơ

        -Những ánh mắt, nụ cười rạng rỡ

        Những lời chào cởi mở, tình thân

        Người người dù Bắc, Trung, Nam

        Thấy như lòng xít lại gần (2 lần) với nhau

 

Xuân nữ:    Trăng nghiêng soi mái Chùa Cầu

        Rêu phong lớp lớp lên màu thời gian

        Kỳ khu từng nét hoa văn

        Bàn tay, khối óc nghệ nhân Kim Bồng

        Tháng năm dù lấp bụi hồng

        Dấu son muôn thuở vẫn không phai nhòa

 

Vè Quảng:    Rộn ràng lớp học dân ca

        Những mầm xanh mới kết hoa đơm chồi

        Trăm năm sự nghiệp trồng người

        Khúc dân ca mãi mãi đời đời ngân vang

        Hò khoan-đối đáp, hội Tao Đàn

        Thú vui tao nhã của dân gian một thời

 

Xuân Nữ:    Mãi mê nghe hát bài chòi

        Để con nó khóc cho lòi rún ra

        Bài chòi diễn xướng dân ca

        Trẻ già ưa thích, gần xa tiếng đồn

        Văn hóa xưa được bảo tồn

        Giữ thơm muôn thuở chút hồn phố xưa

 

Hồ Quảng:     Phố ta ơi! Thương mấy cho vừa

        Người đông phố chật vẫn thừa tình nhân

        Ra về lòng mãi bâng khuâng

        Tưởng như hồn phố níu chân chẳng cho về

Hò khoan:     À ơ…Người về ta chẳng cho về

        Ta níu áo lại, ta đề bài thơ

Hồ Quảng:     Hoa đăng thắp sáng đêm mơ

        Dừa soi bóng nước, con đò đưa trăng

        Mình về có nhớ ta chăng

        Ta về ta nhớ đêm trăng  (2 lần) Phố Hoài.

 
(Dân ca bài chòi)	Trăng Kia Khuyết Đó Lại Tròn

(Dân ca bài chòi) Trăng Kia Khuyết Đó Lại Tròn

 

(Dân ca bài chòi)    Trăng Kia Khuyết Đó Lại Tròn

 

(Lối xuân nữ)    Núi ấn sông trà ngàn năm thương nhớ, 

            Một người con làm rạng rỡ quê hương 

            Chim bằng sải cánh bốn phương 

            Phong ba bão táp gió sương xá… gì.

 

(Xuân nữ)        Quyền cao chức trọng cần chi

            Lên ghềnh xuống thác cũng vì nhân dân

            Khởi xướng phong trào Duy Tân

            Mong cho đất nước muôn phần đẹp tươi

            Dù cho mưa dập sông dồi (x2)

            Đầy ra Côn Đảo khôn nguôi tất long

            Ra tù lại ngọn cờ hồng

            Vẫn đao đáo nổi non sông vơi đầy

            Nuốt hờn tuổi ngậm đắng cay

            Vị dân biểu cụ vẫn tay cầm chèo

            Lòng dân vẫn nước cheo leo

            Làm sao thoát cảnh đói nghèo lầm than

 

(Xàng xê)        Lập lên tờ báo tiếng dân

            Chủ quốc đức tiến xa gần ngợi ca

            Công nông trí thức một nhà

            Vì dân vì nước hôm qua đất lành

            Nghìn năm sử sách lưu danh

            Quyền chủ tịch nước cụ Huỳnh đảm đương

 

(Vè quảng)        Tuổi cao nhưng chí kiên cường

            Quảng Nam đất mẹ quê hương vẹn tròn

            Một long trung nghĩa sắc son

            Sau cho độc lập nước non vững bền

 

(Hò quảng)        Lấy bất biến mà ứng vạn biến

            Chính phủ lâm thời là phải vì dân

            Bảy mươi tuổi vẫn dẻo chân

            Sông Trà núi Ấn gửi thân cuối đời

            Xa xa biển biếc sóng dồi

            Tấm gương của cụ đời đời sáng soi.

 
THU BỒN ƠI

THU BỒN ƠI

THU BỒN ƠI         Thơ: Thân Văn Lào - Chuyển thể dân ca: NSUT Đỗ Linh

Vọng Kim lang:    Hỡi con sông có tự bao giờ

            Ta thẩn thờ vì yêu quý sông quê

            Cái tên Thu Bồn giờ ai đặt tên sông

            Ngọt ngào trong lành xuôi dòng tắm mát

            Tưới bao ruộng đồng bồi đắp phù sa.

            Cho cây thắm tươi đâm chồi cành nảy lộc sắc muôn cành hoa

            Cho em bước sang bến bờ anh ngồi chờ ngẩn ngơ nhìn sông.

            Gìơ đây bỗng thấy buâng khuâng -ánh trăng xa mờ trên sông

            Thuyền trôi ngược dòng mênh mông như dáng ai đang chờ trông.

 

Xuân nữ:        Mênh mông bến nước sông quê

            Thuyền em xuôi ngược đi về bến xưa

            Mái chèo nhẹ sóng ta đưa

            Lặng nghe câu hát người xưa vọng về

            À ơi..dẫu đi mấy dặm Sơn khê

            Lòng không quên được sông quê Thu bồn

            Tay em hái lá dâu non

            Để anh chờ tầm ơ đợi mỏi mòn vì dâu

            Sông Thu ai bắc nhịp cầu

            Để em đây phải dải dầu cùng tơ

            (Mà con sông có tự bao giờ)

            Để em yêu em phải thẩn thờ vì sông

            Thu Bồn ai đặt tên sông

            Bao năm bồi đắp cho đồng phù sa

            Cho cây kết trái đơm hoa

            Cho em xuống bến để qua bến bờ

            Anh nhìn nuối tiếc ngẩn ngơ

            Nhớ em từ chốn bến chờ hẹn ai

            Sông cho nước sông cho đời

            Lắm khi trái gió trở trời đổ mưa

            Vậy mà! nhẹ nhàng tha thiết đong đưa

            Mượt mà hiền dịu khi chưa đến hè.

 

Xàng xê luỵ:    Dòng sông ôm quyện luỹ tre

            Em yêu em quý khi về đến đây

            Sông mang nước tưới luống cày

            Cho bao thế hệ đất này hồi sinh

            Sông quê soi bóng đôi mình

            Đêm về trăng nước lung linh ánh hồng.

 

Hò quảng:        Đứng trên thuyền mát cả lòng

Tự hào ta có một dòng sông Thu

            Sông qua bao cảnh mây mù

            Sông biết hát, biết nhận thù xuống dòng sâu

            Nước xanh thắm mãi một màu.

            Thu Bồn ơi! Ngàn năm sông mãi bắt cầu tình ta

            Sống cùng bè bạn gần xa

            Thương yêu sông nước (quê ta)Thu Bồn.

 

TÂM TÌNH NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH

TÂM TÌNH NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH

  TÂM TÌNH NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH                                                             Tác giả: Phú Sương  

Hò khoan:     À ơi! Đi đâu cũng nhớ vầng mây trắng

                     Sớm chiều ôm ấp rặng Hải Vân

                     Đi đâu lòng cũng bâng khuâng

                     Nhớ về quê mẹ tình thâm nặng tình

                     Khoan hố hợi là hò khoan...

 

Xuân nữ:    Ôi tiếng hát của dòng sông xứ sở

                     Tiếng cội nguồn muôn thuở thiết tha

                     Tiếng ngàn năm hào khí ông cha

                     Khúc dân ca ngọt ngào lời ru đất mẹ

                     Khúc hát một thời để nhớ

                     Khiến lòng tôi xao xuyến bồi ...hồi

                     Thu Bồn ơi! Quảng Nam ơi!

                     Có nghe trong gió vọng lời thiết tha

                     Lâu rồi cứ ngỡ hôm qua

                     Còn vang nhịp bước khúc ca quân hành

 

Cổ bản:     Những người lính đáp lời tổ quốc

                     Quyết xông pha vào cuộc trường chinh

                     Băng qua gian khổ hy sinh

                     Bắt quân cướp nước phải đền máu xương

                     Đât Quảng Nam trung dũng kiên cường

                     Những người con đất Quảng thẳng dương cờ hồng

                    Quân đi đất lở trời long

                    Niềm tin luỹ thép thành đồng không lay

 

Xàng xê:    Những người lính chân đồng vai sắt

                   Đêm ngủ hầm đói rét trường sơn

                   Trắng rừng chất độc da cam

                   Cùng chung ấm lạnh gian nan những ngày

                   Từng khi gian khổ đắng cay

                   Hành quân đi giữa pháo bầy đạn bom

                   Chia nhau cơn sốt giữa rừng

                   Ôm nhau hát giữa tình thương chân thành

Vè quảng:             Đồng đội tôi có bạn không về

Trái tim còn nặng lời là thề nước non

Có người tàn cuộc chiến tranh

Trở về quê cũ tan là tành còn đâu

(Mái nhà xưa đã vùi sâu)2

Nửa phần thân thể đớn đau tật nguyền

Đồng đội tôi kẻ còn người mất

Đã đấu tranh cho hạnh phúc tương lai

(Cho ngày đỏ rợp cờ bay)2

Trời quê lộng gió nắng mai tươi hồng 

 

Đất hồ lòng hán:    Đây tâm huyết đây niềm tin gửi lại

Mong từ đây con cháu ghi lòng

Noi theo truyền thống cha ông

Điểm tô đất mẹ (ân tình)2 thắm tươi

Bao thế hệ kiên cường tranh đấu

Cho ngày nay, cho ngày mai ta cả cuộc đời

Đừng như bèo dạt mây trôi

Tuổi xuân đừng để (đời xuôi) theo dòng

Hãy vươn tới chân trời rộng mở

Đem sức minh gìn giữ quê hương

Dựng xây đất Quảng quê hương

Bừng lên dưới ánh (hồng dương)2 sáng ngời

 

 

QUYỀN SỐNG CHO EM

QUYỀN SỐNG CHO EM

QUYỀN SỐNG CHO EM                         (Quảng Văn Quý)

 

    Hát ru vọng:         Con ơi gắng ngủ đi con.

            Cha con khuất núi con còn ngây thơ

            Thương con sống cảnh bơ vơ.

            Thân hình dị dạng....biết cậy nhờ nơi…đâu

    

    Lối Xuân nữ:         Ôi chiến tranh đã đi vào quá khứ 

            Quê hương mình nay đổi thịt thay da

            Nhưng vẫn còn đây bao cảnh xót xa

            Bao số phận, bao cảnh đời nghiệt ngã

            Có những em thơ đang quăng mình vật vã

            Có những sinh linh chưa kịp thành ….người

    Xuân nữ:        Ôi tiếng ru ...ôi tiếng ru nhói một khoảng trời

            Hay tiếng kêu thảm thiết những mảnh đời da cam

            Em cười tím ruột bầm gan

            Niềm đau phủ trắng khăn tang một đời

            Nhiễm độc da cam em chẳng được làm người

            Sinh ra chẳng vẹn nụ cười hồn nhiên

            Cơn đau hành hạ triền miên

            Thân hình co giật đảo điên quay cuồng

 

Vè Quảng:        Chân tay co quắp rẩy run

            Tấm thân khuyết tật lệ tuông nghẹn ngào

            Da cam là một nỗi đau

            Da cam là kẻ nhuộm màu chia ly

            Trời ơi em có tội tình chi

            Chịu bao giông tố từ khi em lọt lòng

    

    Đất hồ lòng hán:     Em chẳng biết vì sao mình khổ

            Bởi da cam chất độc bạo tàn

            Giặc đem rải khắp giang sơn

            Gieo bao cái chết vô vàn, vô vàn xót xa

            Ôi chất độc ngấm vào thân thể

            (Đời mẹ cha)2 truyền lại cho đời con

            Nỗi đau truyền kiếp da cam

            Gây bao nghiệt cảnh oan khiên, oan khiên đau lòng

                        

Xuân nữ         Người người ai cũng thầm mong

            Em vượt qua số phận mở lòng với tương lai

            Để bóng đêm rồi sẽ dần phai

            Để cho ánh nắng ban mai tràn về

 

Gió đưa trăng:    Hỡi các bạn những tấm lòng thơm thảo

            (Hãy hát lên lời nhân ái từ tâm)2

            Giúp người chất độc da cam

            Vượt lên số phận vươn lên với đời

            Vượt lên số phận vươn lên với đời

 

Hồ Quảng:        Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ

            Câu ca xưa còn đó, tình nghĩa nọ không phai

            Hãy hát vang lên các bạn ơi!

            Bài ca chan chứa tình người trong tim

            Ngàn lời ca khúc nhạc dịu êm    

            Vơi đi ám ảnh da cam giữa đời

            Để bình minh chiếu khắp muôn nơi

            Để lời ru đẫm lệ thành lời... thành lời yêu thương./.

 
Quê hương

Quê hương

Quê hương

Thơ: Đỗ Trung Quân

    Nhạc: Giáp Văn Thạch

    Lời dân ca: Phùng Sơn

 

Nhạc:          “Quê hương là chùm khế ngọt… Êm đềm khua nước ven sông”

 

Xuân nữ:    Quê hương tuổi thơ là con diều nhỏ

Những chiều vàng lộng gió vút lên khơi

Tuổi hồn nhiên rộn rã tiếng cười

Hái hoa đuổi bướm rong chơi trên … đồng

Quê hương là một chuyện lòng

Mùa em mắt biếc môi hồng kiêu sa

Biết nhau từ thuở mười ba

Đến năm mười tám vẫn là người dưng

Gặp nhau lòng cứ ngại ngùng

Tình sao muốn ngõ vẫn nói không nên…lời

 

Hồ quảng:     Tình yêu đó như nụ hoa chưa nở

Nắng sớm mưa chiều chẳng sợ tàn phai

Nên xa nhau đã mấy năm dài

Vẫn nhớ về một thuở cùng ai chung đường

Em là một góc quê hương

Chiếc nôi hồng kỷ niệm thân thương một đời

 

Lý đa đa:     Nghe trong tim kỷ niệm xưa thoảng đưa hương mùa cũ

Lối nhỏ ai về nắng rải trắng hoa cau

Nón lá nghiêng nghiêng mắt biếc hoen sầu

Nhớ ơi một thuở ban đầu khó quên…

 

Nhạc:     “Quê hương là cầu tre nhỏ…sẽ không lớn nỗi thành ngưòi”

 

Xuân nữ:     Quê hương với mẹ già như chẳng khác

Suốt một đời toả bóng mát trong ta

Là dòng sông chở nặng phù sa

Nuôi xanh mượt từng nương dâu, ruộng lúa

Là khúc ca dao hoà vào dòng sữa

Để con thơ khôn lớn nên người

Theo ta đến tận cuối đời

Ngọt ngào tha thiết những lời mẹ ru

Trăng còn khi tỏ khi mờ

Lời ru của mẹ thiên thu…vẫn bên lòng…

 

ru con:    Ơi à ơi! Mẹ ru thiết tha đêm ngày

Bao tình thương, mẹ ru theo từng nhịp võng

Bát ngát bóng luỹ tre xanh

Ngạt ngào hương hoa cau thơm nồng

Có nghìn đàn bướm tung tăng

Bay vào từng giấc mơ hồng…(2)

Ơi mẹ ơi!...Quê nhà ơi!...